CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996                                  TIN TỔNGHỢP                     GIÃ SỬ                         QUÂNSỰ                    CHUYỆN LẠ              WEB                                    

Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2013

Vũ khí khiến Trung Quốc khiếp đảm



(10:49 16/06/2013) Mặc dù đã đẩy nhanh tốc độ hiện đại hóa quân đội nhưng mỗi khi nhắc đến Iskander, cảm giác ớn lạnh vẫn chạy dọc sống lưng các lãnh đạo quân đội Trung Quốc.


9K720 Iskander, NATO định danh SS-26 Stone, là tổ hợp tên lửa đạn đạo chiến dịch - chiến thuật tầm ngắn cực kỳ lợi hại. Trên thế giới không có loại vũ khí nào có thể so sánh với Iskander ở mọi chỉ số.Iskander được chế tạo để thay thế cho tên lửa Oka SS-23 bị loại bỏ theo Hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân INF giữa Nga và Mỹ.

Iskander được thiết kế để phá hủy các hệ thống vũ khí của đối phương,  trung tâm chỉ huy, các máy bay đang đậu tại sân bay, các nút giao thông quan trọng, xuyên thủng lá chắn tên lửa của đối phương. Mục tiêu của chương trình là phải chế tạo được một vũ khí phi hạt nhân có tính răn đe cực mạnh.
Các thành phần của hệ thống tên lửa chiến dịch-chiến thuật 9K720 Iskander.

Chương trình phát triển tên lửa đạn đạo chiến dịch-chiến thuật Iskander được Phòng thiết kế Kolomna khởi xướng từ những năm 1990, dự án được đặt mật danh là Tender. Trong năm 2004, các quan chức quốc phòng Nga lần đầu tiên tiết lộ về một loại tên lửa đạn đạo chiến dịch-chiến thuật được gọi làIskander.

Do yêu cầu rất cao từ lúc thiết kế nên Iskander hội tụ những công nghệ đỉnh cao của Nga và cả thế giới trong lĩnh vực công nghệ tên lửa, hệ thống dẫn đường, động cơ tên lửa và các biện pháp trốn tránh kẻ thù. Điểm độc đáo của Iskander bệ phóng được đặt trên khung gầm xe tải MZTK-79306 8x8 bánh với 2 tên lửa mỗi xe.

Hệ thống sử dụng tên lửa 9M723K1 được  trang bị  động cơ nhiên liệu rắn độc đáo, mỗi tên lửa được kiểm soát một cách độc lập trong suốt hành trình. Mỗi tên lửa trên xe phóng có thể nhắm mục tiêu một cách độc lập.
Việc Nga tuyên bố triển khai tên lửa Iskander đến Kiliningrad đã buộc Mỹ hủy việc xây dựng lá chắn tên lửa tại Ba Lan và Cộng Hòa Sec.

Iskander nhắm mục tiêu rất đa dạng có thể từ vệ tinh, máy bay trinh sát, UAV hoặc từ các lính trinh sát, các bức ảnh chụp trên không được quét vào máy tính. Tên lửa có thể nhắm mục tiêu trở lại khi bay trong trường hợp tấn công các mục tiêu di động.

Một tính năng độc đáo của Iskander là được trang bị dẫn hướng quang-điện có điều khiển từ các máy bay AWACS hoặc UAV. Hệ thống dẫn hướng quang-điện giúp tên lửa tự dẫn đến mục tiêu với độ chính xác rất cao.

Một điểm “độc” khác của Iskander là tên lửa có quỹ đạo bay rất quái chiêu nên rất khó đánh chặn.

Tên lửa có tốc độ lên đến gấp 7 lần tốc độ âm thanh (khoảng 7.700km/h) nên việc đánh chặn gần như là điều không thể.

Một tính năng “vô đối” khác của Iskander là kỹ thuật tàng hình plasma, kỹ thuật tàng hình này tạo ra một lớp mây trung tính về điện bao quanh đạn tên lửa khiến các radar mất phương hướng. Gần đây, Nga còn bổ sung thêm lá chắn điện tử bao quanh tên lửa Iskander giúp nó vượt qua lá chắn tên lửa của Mỹ.

Hệ thống tên lửa Iskander có thể đánh trúng mục tiêu từ khoảng cách 400-480km với bán kính lệch mục tiêu CEP chỉ từ 5-7 mét, với đầu đạn nặng 480kg chất nổ mạnh thì chẳng còn mục tiêu nào có thể sống sót trong bán kính 5-7 mét.

Sức mạnh của Iskander không chỉ tồn tại trên giấy mà đã được chứng minh trong thực chiến. Trong chiến tranh Nam Ossetia năm 2008, một tên lửa Iskander đã đánh trúng một tiểu đoàn xe tăng Gruzia ở Gori phá hủy 28 xe tăng.

Nỗi khiếp đảm với Bắc Kinh

Sức mạnh của tên lửa Iskander không chỉ khiến Trung Quốc lạnh gáy mà còn khiến NATO phải chùn bước trong kế hoạch triển khai lá chắn tên lửa ở Ba Lan. Sau khi Nga tuyên bố sẽ triển khai tên lửaIskander đến Kiliningrad để hóa giải mối đe dọa từ lá chắn tên lửa mà Mỹ triển khai ở Ba Lan và Cộng hòa Sec. Không lâu sau đó chính quyền Tổng thống Obama cũng tuyên bố hủy bỏ kế hoạch triển khai lá chắn tên lửa tại đây.

Đến NATO còn lạnh gáy với Iskander nói chi đến Trung Quốc, trong kho vũ khí Trung Quốc chắng có loại nào có thể hóa giải Iskander.

Có thể nói rằng, tên lửa Iskander đã khiến Bắc Kinh phải phân vân về các kế hoạch của mình đối với vùng Viễn Đông của Nga. Chỉ cần Nga triển khai Iskander đến gần biên giới thì có thể vô hiệu hóa các hệ thống vũ khí từ sâu bên trong lãnh thổ Trung Quốc mà họ gần như không có vũ khí nào có thể chống chọi được.

Với NATO họ còn có PAC-3 MSE hoặc THAAD để đối phó với Iskander còn Trung Quốc chẳng có gì. Hệ thống tên lửa phòng không tầm xa HQ-9 do Trung Quốc sao chép từ S-300 của Nga là một ẩn số quá lớn về tính năng chiến đấu. S-300PMU1/2 của Nga là một hệ thống vũ khí mạnh nhưng chắc chắn các nhà thiết kế Nga đã tính đến khả năng hóa giải mối đe dọa từ chính vũ khí này khi chúng nằm trong tay Trung Quốc.

Trong cuộc trao đổi với báo chí năm 2008, ông Nikolai Dimidyuk đại diện Tổng công ty xuất khẩu vũ khí nhà nước Nga Rosoboronexport cho biết. Nga đang xúc tiến các hoạt động để xuất khẩu biến thểIskander-E cho một số quốc gia như Kuwait, Singapore, Việt Nam và Hàn Quốc.

Mặc dù biến thể Iskander-E chỉ có tầm bắn 280 do các điều khoản của Hiệp ước cấm phổ biến công nghệ tên lửa có tầm bắn trên 300 km. Iskander-E không được trang bị hệ thống dẫn hướng quang-điện, bán kính lệch mục tiêu CEP khoảng 30 mét. Nhưng con số này cũng chính xác hơn rất nhiều lần so với tên lửa tinh vi nhất của Trung Quốc và chừng đó cũng quá đủ để Bắc Kinh phải lạnh gáy.

Mặc dù biến thể xuất khẩu Iskander-E không mạnh bằng vũ khí nguyên bản của Nga nhưng nó cũng đủ để làm thay đổi cán cân quân sự nơi nó xuất hiện.



Còn tiếp!
quốc việt
Theo Infonet

Trung Quốc bám sát hành trình của "đối thủ số 1" về biển Đông



(04:26 13/06/2013) Thời gian qua, nhất cử nhất động của 2 tàu chiến lớp Hamilton mà Philippines mua lại của Mỹ đều được Trung Quốc theo dõi rất sát sao. Họ cho rằng, đây là đối thủ số 1 của Trung Quốc trong tương lai khi tranh chấp trên biển Đông trở nên căng thẳng.


“Thời báo Hoàn Cầu” dẫn nguồn tin của tờ “Philippines Daily Inquirer” ngày 11/06 cho biết, chiếc tàu chiến thứ 2 lớp Hamilton mà Philippines mua lại của Mỹ đã bắt đầu nhổ neo, hành trình từ cảng Charleston, bang Bắc Carolina về Philippines. Đại sứ quán Philippines tại Washington chiều 10/06 đã ra thông báo: “BRP Ramon Alcaraz đã chuẩn bị bắt đầu lên đường về Philippines, chúc con tàu thuận buồm xuôi gió”.

PF-16 BRP Ramon Alcaraz là chiếc thứ 2 thuộc lớp Gregorio del Pilar (nguyên là chiến hạm mang tên Dallas thuộc lớp tàu tuần tiễu ven bờ Hamilton của lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ), được Mỹ bán lại cho Philippines sau khi chúng chính thức nghỉ hưu, chiếc đầu tiên thuộc lớp này đã về Philippines là BRP Del Pilar (PF-15), chiếc thứ 2 dự kiến sẽ về Philippines vào đầu tháng 8.

Tàu hộ vệ thứ nhất lớp Hamilton mang tên BRP Del Pilar (PF-15)
Tàu hộ vệ thứ nhất lớp Hamilton mang tên BRP Del Pilar (PF-15)
Tuy là tàu tuần tiễu cũ của Mỹ nhưng các tàu chiến lớp Hamilton này có kích thước và lượng giãn nước chẳng kém gì các tàu hộ vệ cỡ lớn. Con tàu trị giá 151,5 triệu USD này có lượng giãn nước 3250 tấn, chiều dài 378 feet (hơn 115,21m), rộng 13,1m, mớn nước 6,07m, biên chế 167 thủy thủ và nhân viên.

Trước đây lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ đã từng sử dụng các tàu loại này làm nhiệm vụ phá băng nên đặc điểm nổi bật nhất của loại tàu chiến này là hệ thống động lực rất khỏe. Các tàu loại này có thể hành trình liên tục 14.400km mà không cần bổ sung, tiếp tế. Chi phí tân trang mỗi con tàu này thành tàu hộ vệ là 15,5 triệu USD.


Khinh hạm lớp Hamilton thứ 2 mang tên BRP Ramon Alcaraz (PF-16)
Khinh hạm lớp Hamilton thứ 2 mang tên BRP Ramon Alcaraz (PF-16)

Do là tàu tuần tiễu ven bờ thế hệ cũ của Mỹ nên vũ khí, trang bị của lớp tàu này khá nghèo nàn với một pháo bắn nhanh 76mm, một hệ thống phòng không tầm gần Phalanx 20mm, hai bệ pháo tự động MK-38 Bushmaster 25mm, đảm bảo cho tàu có 1 khả năng tác chiến nhất định.

Điểm quan trọng là sau khi cải tạo, nâng cấp, các tàu lớp Gregorio del Pilar sẽ được kết nối thông tin với hải quân Mỹ, thuận tiện cho phối hợp tác chiến và cũng tạo điều kiện thuận lợi cho hải quân Mỹ trong hoạt động thu thập thông tin về tài nguyên thiên nhiên và các số liệu đại dương ở khu vực biển Đông.

2 tàu chiến lớp Gregorio del Pilar sẽ trở thành nòng cốt trong lực lượng hải quân Philippines.
2 tàu chiến lớp Gregorio del Pilar sẽ trở thành nòng cốt trong lực lượng hải quân Philippines.
Chiếc đầu tiên trong lớp tàu Hamilton BRP Del Pilar (PF-15) đã được bàn giao cho Philippines vào tháng 12 năm ngoái. Đích thân Tổng thống Philippines Benigno Aquino III đã đến tham dự lễ ra mắt và tuyên bố sẽ triển khai tàu chiến đến bảo vệ chủ quyền của Philippines ở khu vực biển phía Tây (tức Biển Đông).

Báo chí Philippines cho biết, 2 tàu chiến loại này là các tàu “lớn nhất và hiện đại nhất”, là nòng cốt trong lực lượng hải quân nước này. Hiện nay, có một số thông tin cho biết, các tàu chiến loại này sẽ được trang bị thêm tên lửa chống hạm RGM-84 Harpoon của Mỹ. Nếu thông tin trên là chính xác thì năng lực tác chiến của 2 tàu này đã được nâng lên một tầm cao mới, giúp nó có khả năng đương đầu với các tàu chiến của Trung Quốc.
Trước đây Mỹ đã từng sử dụng tàu lớp Hamilton làm tàu phá băng
Trước đây Mỹ đã từng sử dụng tàu lớp Hamilton làm tàu phá băng

Tuy vậy, trong bài trả lời phỏng vấn của tờ “Thời báo Hoàn Cầu”, chuyên gia quân sự Trung Quốc Lưu Giang Bình cho biết, hiện Philippines có tiềm lực quân sự, đặc biệt là về hải quân, yếu kém hơn rất nhiều so với các quốc gia xung quanh nên họ nỗ lực mua sắm và tân trang các tàu chiến cũ là điều dễ hiểu.

Ông cũng cho biết thêm, 2 tàu loại này tuy có lượng giãn nước lớn ngang tầm các tàu hộ vệ cỡ lớn và gấp gần 3 lần tàu hộ vệ mới nhất lớp 056 của Trung Quốc nhưng về trang bị, vũ khí của nó thì quá kém. Kể cả về số lượng và chất lượng, hải quân Philippines vẫn không phải đối thủ của hải quân Trung Quốc.



Theo Đức Thắng An ninh thủ đô/“Thời báo Hoàn Cầu”

Tướng Mỹ: Đồng minh là vũ khí tốt nhất để răn đe, đối kháng Trung Quốc



(10:30 15/06/2013) Tăng cường diễn tập quân sự đa phương, hỗ trợ đồng minh huấn luyện quân đội v.v... sẽ giúp quân Mỹ duy trì vị thế chủ đạo ở châu Á-Thái Bình Dương.


Mỹ triển khai tác chiến hợp nhất trên không-trên biển nhằm vào Trung Quốc.

Trang mạng "Tạp chí Quốc phòng" Mỹ ngày 11 tháng 6 có bài viết cho rằng, để ứng phó với sự phát triển sức mạnh quân sự của Trung Quốc, Lầu Năm Góc đưa ra lý luận "tác chiến hợp nhất trên không-trên biển", yêu cầu các lực lượng vũ trang Mỹ bảo đảm phải chiến thắng Trung Quốc trên các phương diện như máy bay chiến đấu, tàu chiến và vũ khí dẫn đường.

Nhưng có tướng quân Mỹ cho rằng Mỹ cần tiếp tục tăng cường quan hệ quân sự với các đồng minh châu Á, bởi vì đồng minh là vũ khí tốt nhất đối kháng Trung Quốc.

Bài viết cho rằng, có chuyên gia dự đoán, cùng với việc Hải quân và Thủy quân lục chiến Mỹ mở rộng hiện diện quân sự ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, sẽ đối mặt với mối đe dọa “chống can dự” từ những nước lớn mới nổi như Trung Quốc.

Đối với vấn đề này, Chuẩn tướng Richard Simcock của lực lượng Thủy quân lục chiến Thái Bình Dương Mỹ thì cho rằng, Mỹ triển khai nhân viên chỉ huy lực lượng thủy quân lục chiến tại khu vực này hoàn toàn không sợ hãi loại "mối đe dọa" này, hơn nữa ông tin rằng thông qua xây dựng quan hệ chặt chẽ với các đồng minh châu Á, Mỹ có thể tiến hành "can dự" khi cần thiết.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn báo chí ngày 11 tháng 6, ông Simcock nói, mấu chốt của giải quyết mối đe dọa "chống can dự" không phải là thiết kế vũ khí kiểu mới, mà là gia tăng "qua lại" với các nước hữu nghị.

Ông cho rằng, các nỗ lực tăng cường hợp tác với đồng minh như diễn tập quân sự đa phương và trợ giúp đồng minh huấn luyện quân đội, hầu như có thể bảo đảm cho quân Mỹ duy trì lực lượng chủ đạo ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Ông còn cho rằng, những nỗ lực này có lợi cho tránh xung đột quân sự, bởi vì Mỹ sẽ có lực lượng đồng minh khổng lồ để răn đe kẻ thù tiềm tàng.


Mỹ sẽ luân phiên triển khai tàu tuần duyên ở biển Đông - quân cảng Changi của Singapore.

Bài viết cho rằng, mặc dù không có quốc gia nào muốn Mỹ mở rộng sự hiện diện quân sự lâu dài ở khu vực này, nhưng các đồng minh châu Á vẫn trông đợi tiến hành huấn luyện liên hợp với quân Mỹ và mua sắm vũ khí công nghệ cao.

Simcock nói: "Sự tham gia và can dự của loại phương thức này được chúng ta sử dụng để đáp trả kẻ thù muốn ngăn chặn quân Mỹ". Ông còn cho biết: "Mối quan hệ được chúng tôi xây dựng hiện nay sẽ thấy được thành quả khi bùng phát khủng hoảng", bất kể là cuộc khủng hoảng này do con người gây ra hay là một trận thiên tai.

Simcock nói thẳng rằng, trong thời gian tới ưu thế quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ rất khó bị thách thức. Nhưng bài viết chỉ ra, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan nghiên cứu của Washington vẫn lo ngại Mỹ sẽ có chiến tranh tiềm tàng với Trung Quốc.

Simcock cho rằng, trên thực tế, thực lực quân sự của Mỹ mạnh hơn so với những hiểu biết của đa số người, nhưng vẫn có những mặt cần được cải thiện, tức là quân Mỹ cần cải tiến vũ khí trang bị, lực lượng tàu chiến cần được tăng cường để ứng phó với bất cứ sự cố ngoài ý muốn nào có thể xảy ra. Nhưng trọng điểm cần tập trung vào làm thế nào để tránh khủng hoảng, chứ không chỉ là nhằm vào một sự kiện cá biệt nào.

Simcock còn cho rằng: "Tôi rất lạc quan đối với khu vực Thái Bình Dương, hơn nữa chúng ta đã trở thành đối tượng lựa chọn của các đối tác hợp tác của khu vực này".


Mỹ-Nhật diễn tập đổ bộ liên hợp

Mỹ Ấn diễn tập hải quân liên hợp

Lực lượng thiết giáp Mỹ-Hàn diễn tập quân sự liên hợp



Theo GDVN

Vì sao Trung Quốc thực sự lo ngại mục đích tập trận chung của Nhật-Mỹ?

An ninh, an toàn, tự do hàng hải trên Biển Đông là mục tiêu chung

(10:19 16/06/2013) Nhật Bản và Mỹ đều có mục đích đằng sau cuộc diễn tập đánh chiếm đảo Nhật-Mỹ lần này, gây đặc biệt quan ngại cho Trung Quốc.


Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản và Mỹ tiến hành diễn tập đổ bộ (ảnh tư liệu)


Tân Hoa xã vừa đăng bài viết của nhà nghiên cứu quân sự Trung Quốc, tướng Trần Hổ về mục đích tham diễn tập tác chiến đánh chiếm đảo của Nhật Bản ở lãnh thổ Mỹ. Sau đây là nội dung chính của bài viết:

Theo hãng Kyodo Nhật Bản, ngày 10 tháng 6 Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản bắt đầu cùng với quân Mỹ tiến hành diễn tập đánh chiếm đảo liên hợp ở San Diego, bang California, Mỹ. Đây là lần đầu tiên cả 3 "quân chủng" của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (Lực lượng Phòng vệ Biển, Lực lượng Phòng vệ Mặt đất, Lực lượng Phòng vệ Trên không) tham gia diễn tập đánh chiếm đảo ở lãnh thổ Mỹ.

Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản cử tàu sân bay trực thăng Hyuga, tàu hộ vệ và tàu khu trục Atago trang bị hệ thống Aegis tham gia diễn tập. Cuộc diễn tập sẽ kéo dài đến ngày 26 tháng 6 năm 2013.

Được biết, cuộc diễn tập lần này mang tên "Dawn Blitz", từ ngày 11 đến ngày 28 tháng 6 do Hải quân và Thủy quân lục chiến Mỹ cùng với Canada, New Zealand tổ chức liên hợp. Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản cử khoảng 1.000 quân tham gia diễn tập. Chính phủ hai nước Nhật-Mỹ đều chính thức cho biết "cuộc diễn tập hoàn toàn không nhằm vào quốc gia cụ thể nào".

Theo kế hoạch, máy bay vận tải cánh xoay Osprey sẽ hạ cánh xuống đường băng tàu sân bay trực thăng Hyuga vào ngày 14 tháng 6, tập luyện sử dụng thang máy để đưa vào nhà chứa dừng máy bay trên tàu.

Trả lời phỏng vấn hãng Kyodo, lữ đoàn trưởng Lữ đoàn viễn chinh 1 của Lực lượng Thủy quân lục chiến Mỹ nhấn mạnh: "Máy bay Osprey hạ cánh xuống tàu chiến Nhật Bản có ý nghĩa lịch sử. Đây là cơ hội tốt để tiếp tục tăng cường xây dựng quan hệ tốt với Lực lượng Phòng vệ trong nhiều năm".


Tàu sân bay trực thăng Hyuga

“Dùng dao mổ trâu để giết gà”


Chuyên gia Trần Hổ cho rằng, nhìn vào các thông tin hiện nay từ Nhật Bản, hầu như mục tiêu cốt lõi của cuộc diễn tập quân sự lần này chính là ở hai từ "đổ bộ lên đảo".

Trong đó, binh lực tham diễn chủ yếu của Nhật Bản gồm có tàu sân bay trực thăng Hyuga, tàu Aegis và binh lực Lực lượng Phòng vệ Mặt đất có tính chất là lực lượng đánh bộ (đơn vị WAiR) - đều có khả năng tác chiến đổ bộ. Quy mô binh lực lớn như vậy dường như biểu thị quyết tâm "thế tất phải hành động" của Nhật Bản.

Nhưng, điều này rõ ràng cho thấy mục đích diễn tập quân sự lần này của Nhật Bản cũng không đơn  giản là "đổ bộ lên đảo". "Giết gà mà lại dùng dao mổ trâu", tàu khu trục Hyuga, tàu chiến Aegis và hàng nghìn binh sĩ, khi đặt trong bối cảnh tranh chấp đảo Senkaku thì mới thấy được Nhật Bản đang tính toán gì.

Đối với dư luận tuyên truyền rằng Nhật Bản đang tận dụng cơ hội này để học chiến thuật đổ bộ lên đảo của Mỹ - quan điểm này cũng không đứng vững. Đối với Nhật Bản, kinh nghiệm đánh chiếm đảo của họ có thể nói là tương đối phong phú.

Ngay từ thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, trên chiến trường Thái Bình Dương, Nhật Bản đã trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh tương tự. Hơn nữa, phần chi tiết có liên quan đến chiến thuật, tác chiến thực sự rất khó thu được kinh nghiệm thực sự thông qua diễn tập liên hợp giữa hai nước. Vì vậy, ở phạm vi lớn hơn, mục đích tham diễn lần này của Nhật Bản tuyệt đối không phải đơn giản là một cuộc diễn tập đổ bộ lên đảo, có thể nói họ hiện chỉ lấy "đổ bộ lên đảo" làm một cách nói mà thôi.


Tàu khu trục lớp Atago Nhật Bản

Mục đích diễn tập đổ bộ lên đảo của Nhật Bản


Đối với Nhật Bản, suy nghĩ bên trong của họ có thể rất nhiều. Phải biết rằng, quá trình đổ bộ lên đảo của binh sĩ đánh bộ là một phần nhỏ nhất trong tác chiến đánh chiếm đảo.

Trung tâm của tác chiến đánh chiếm đảo là kiểm soát phạm vi lớn của quyền kiểm soát trên không, quyền kiểm soát trên biển. Và tấn công thực sự đối với các căn cứ chi viện tầm xa hoặc căn cứ chi viện trên lãnh thổ của đối phương. Do đó, chiến dịch đổ bộ lên đảo có phạm vi và quy mô tương đối lớn.

Bộ phận lực lượng quân sự này e rằng liên quan đến giới hạn cuối cùng của Hiến pháp hiện hành Nhật Bản. Hiện nay, Nhật Bản và Mỹ tiến hành diễn tập liên hợp, rất có thể chính là muốn giành lấy “khâu đột phá” trong hành động đổ bộ lên đảo.

Đã muốn tiến hành tác chiến đổ bộ lên đảo thì không thể giới hạn trong một vấn đề lực lượng đổ bộ lên đảo, mà phải tính toán từ góc độ tác chiến đổ bộ lên đảo. Nhật Bản có khả năng trong tương lai lấy điều này làm cơ hội, phát triển đồng bộ sức mạnh quân sự mang tính “tấn công” tranh đoạt quyền kiểm soát trên không/kiểm soát biển, thậm chí tấn công tầm xa, trong phạm vi lớn hơn.

Đồng thời, nhìn vào góc độ ngoại giao, Nhật Bản và Mỹ cùng diễn tập đổ bộ lên đảo chắc chắn là muốn truyền đi thông điệp các các giới rằng "Mỹ ủng hộ tranh chấp chủ quyền đảo hiện nay của Nhật Bản".

Còn nhìn vào cấp độ pháp lý, hành động này của Nhật Bản trong tương lai có thể liên quan đến một loạt vấn đề như thực hiện quyền tự vệ tập thể, có đột phá Hiến pháp hòa bình hay không, có sửa đổi Hiến pháp hay không...

Đơn vị tinh nhuệ WAiR của Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản - lực lượng giỏi tác chiến đổ bộ.

Cho nên, Nhật Bản hy vọng thông qua cuộc diễn tập này để đạt được nhiều mục tiêu: Một là muốn khẳng định với bên ngoài về đồng minh Nhật-Mỹ, nhấn mạnh Nhật Bản có thể nhận được sự hỗ trợ từ bên ngoài. Hai là mở  một con đường cho “chiến lược mang tính tấn công” có thể phát triển tiếp theo. Cuối cùng, thậm chí có thể tạo cơ sở cho một loạt hành động như sửa đổi Hiến pháp, thực hiện quyền tự vệ tập thể trong tương lai.

Những tính toán của Mỹ

Phía Nhật Bản có nhiều mục tiêu tiềm tàng như vậy, vậy phía Mỹ thì sao? Có thể nhận thấy, Mỹ cũng tính toán thông qua hoạt động lần này, tăng cường đồng minh quân sự Nhật-Mỹ, đồng thời truyền đi một số thông điệp với bên ngoài, nói cách khác chính là gây sức ép với bên ngoài.

Lấy diễn tập tác chiến đổ bộ lên đảo làm khởi điểm, nói với các nước xung quanh rằng, trong một số thời điểm Mỹ có thể sử dụng phương thức quân sự can thiệp vào tranh chấp chủ quyền ở Đông Bắc Á.

Trần Hổ nhấn mạnh, quan điểm này của Mỹ thực chất là "đi trên dây". Bởi vì, họ từng bước thực hiện kiềm chế Trung Quốc - tương ứng với việc từng bước nới lỏng cho Nhật Bản phát triển sức mạnh quân sự.

Trong khi đó, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, người kiềm chế Nhật Bản phát triển sức mạnh quân sự luôn là Mỹ. Vì vậy, Nhật Bản một khi có cơ hội cởi trói khôi phục sức mạnh quân sự, rất có thể trước tiên là "gây khó dễ" cho Mỹ.


Máy bay vận tải cánh xoay MV-22 Osprey Mỹ


Tướng Trung Quốc cố tỏ ra lo ngại rằng, tình hình này sẽ càng sâu sắc hơn cùng với việc tổ chức cuộc diễn tập liên hợp này, một khi đạt được mức độ nào đó thì khó có thể kiểm soát.

Đương nhiên, đối với Nhật Bản, họ nếu thực sự có thể lấy đây là khâu đột phá, từng bước thực hiện mục tiêu chiến lược lâu dài của họ, thì "đó không phải là việc tốt đối với láng giềng ( Trung Quốc), và cũng không chắc sẽ là một việc tốt đối với bản thân Nhật Bản".



Theo GDVN

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

Chèn đồng hồ flash vào blog



123 mau thu





123
123


12334
1222

1111

333











Hải quân Ấn Độ 'tiếp cận không gián đoạn' vào Biển Đông

An ninh, an toàn, tự do hàng hải trên Biển Đông là mục tiêu chung

TPO-Theo Eurasiareview, lập trường của Ấn Độ trên Biển Đông là tự do hàng hải (FON). Và nước này sẵn sàng hợp tác hải quân với các nước trong khu vực để đảm bảo lợi ích của mình.
Hải quân Ấn Độ sẵn sàng hợp tác với các nước trong khu vực để đảm bảo lợi ích của mình trên Biển Đông
Hải quân Ấn Độ sẵn sàng hợp tác với các nước trong khu vực để đảm bảo lợi ích của mình trên Biển Đông.
Biển Đông là Tuyến đường Vận tải Trên biển (SLOC) lớn và cũng là tuyến đường thương mại quan trọng. Do đó, xung đột trong khu vực cũng liên quan đến tất cả các quốc gia châu Á trong đó có Ấn Độ. Mặc dù Ấn Độ không trực tiếp liên quan đến tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông nhưng nước này cũng rất quan tâm đến Tự do Hàng hải (FON).
Từ lâu, Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành “ao nhà”, điều này dù nhiều hay ít đều có ảnh hưởng tới lợi ích của Ấn Độ. Mới đây, New Delhi đã nhắc lại lập trường của mình về “Tự do Hàng hải”, nhấn mạnh sự cần thiết của việc “tiếp cận không gián đoạn” vào vùng biển quốc tế, đồng thời cho biết nước này sẽ bảo vệ lợi ích của mình nếu cần thiết. Điều này bao gồm tăng cường hợp tác hải quân với các nước trong ASEAN và các cường quốc khác cùng có chung mối quan tâm trong việc bảo vệ các nguyên tắc của FON.
Tự do hàng hải
Sáu bên (Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Đài Loan, Brunei và Malaysia) đang có tranh chấp lãnh thổ trên vùng Biển Đông. Tinh hình ngày càng phức tạp khi Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố chủ quyền trên”đường lưỡi bò” chiếm gần trọn Biển Đông. Căng thẳng khu vực đã thu hút được sự chú ý của toàn cầu và nổi lên như một điểm nóng quân sự. Trong khi đó, Trung Quốc mạnh mẽ phản đối quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, bác bỏ mọi biện pháp tiếp cận đa phương, kêu gọi các nước ngoài tranh chấp trong khu vực không tham gia vào vụ việc.
Tuyến đường Vận tải Trên biển (SLOC) đi qua Biển Đông có tầm quan trọng sống còn đối với tất cả các quốc gia châu Á trong đó có Ấn Độ. Hải quân Ấn Độ cũng tuyên bố việc bảo vệ các tuyến đường biển là một trong những nhiệm vụ của quân đội nước này. Theo học thuyết Hàng hải Ấn Độ, “Theo quan điểm về sự phụ thuộc lớn của các quốc gia trên vùng biển thương mại, việc bảo vệ SLOV là một nhiệm vụ quan trọng của Ấn Độ”. Rắc rối chính trị ở Biển Đông chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của Ấn Độ vì điều này ảnh hưởng tới quyền lợi của Ấn Độ trong tự do hàng hải.
Ấn Độ luôn thể hiện lập trường của mình về việc tiếp cận không gián đoạn trên vùng biển quốc tế và SLOC bởi 55% quá cảnh thương mại nước này đều phải đi qua Biển Đông. Bên cạnh đó, Ấn Độ cũng có nhiều tài sản kinh tế tại Việt Nam, do đó tự do hàng hải trong vùng biển này lại càng quan trọng. Mối quan tâm ngày càng tăng của New Delhi đối với duy trì hòa bình và ổn định trên SLOCs được lên tiếng tại hội nghị thượng đỉnh Ấn Độ-ASEAN vào tháng 12/2012. Trong bài diễn văn khai mạc, Thủ tướng Manmohan Singh tuyên bố: “Như các quốc gia hàng hải, Ấn Độ và các nước ASEAN cần tăng cường hợp tác an ninh, an toàn và tự do hàng hải, giải quyết bằng hòa bình các tranh chấp hàng hải theo luật pháp quốc tế”.
Mặc dù tranh chấp trên Biển Đông chỉ liên quan đến năm nước sáu bên nhưng trên thực tế, khu vực này thu hút sự chú ý của toàn cầu. Bày tỏ lo ngại, cựu Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ, ông S. M. Krishna cho biết: “Ấn Độ cho rằng Biển Đông là tài sản của thế giới’. Bình luận này của ông Krishna đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ Bắc Kinh. Một bài xã luận đăng trên Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc có viết: “Việc gọi Biển Đông là tài sản toàn cầu là một sai lầm… các nước khác không thể mô tả lãnh thổ của một quốc gia là tài sản toàn cầu”. Bắc Kinh cho rằng nguyên tắc FON sẽ vẫn được đảm bảo đầy đủ trên Biển Đông. Tuy nhiên, tuyên bố này lại mâu thuẫn với các hành động của Bắc Kinh trên vùng biển mà nước này ngang nhiên tuyên bố chủ quyền.
Theo Eurasiareview, nỗ lực áp luật quốc gia lên vùng biển quốc tế của Trung Quốc là động thái đáng báo động đối với cộng đồng quốc tế và việc quy định tự do đi lại trên vùng biển này là điều cần thiết. Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ A.K Antony đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc tuân thủ luật pháp quốc tế tại đối thoại Shangri-La năm 2012. Ông nói: “Giống như quyền tự do cá nhân, quyền tự do hàng hải chỉ được thực hiện đầy đủ khi tất cả các nước lớn và nhỏ sẵn sàng tuân thủ pháp luật và các nguyên tắc đã được thừa nhận”.
S.M. Krishna, cựu Bộ trưởng ngoại giao Ấn Độ cũng bày tỏ quan điểm tương tự tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF). Nhận thấy sự cần thiết của SLOC, ông nói: “Chúng tôi đã và đang theo dõi những tiến triển liên quan đến Biển Đông. Như chúng tôi nói trước đó, Ấn Độ ủng hộ tự do hàng hải và tiếp cận đến các nguồn tài nguyên theo luật quốc tế. Những nguyên tắc này phải được các quốc gia tôn trọng”. Ấn Độ sẵn sàng hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á để đảm bảo quyền tự do hàng hải.
Hải quân triển khai định kỳ tại Biển Đông
Theo đó, Hải quân Ấn Độ có kế hoạch triển khai định kỳ tại Biển Đông, đánh dấu sự hiện diện của nước này. Ấn Độ cũng tham gia vào các cuộc tập trận với hải quân của các quốc gia Đông Nam Á. Theo Eurasiareview, việc Ấn Độ hợp tác với các quốc gia trong khu vực là phù hợp với chính sách hướng Đông của nước này. Ấn Độ và ASEAN trong tháng 12/2012 đã kỉ niệm 20 năm quan hệ đối thoại ASEAN- Ấn Độ. Hội nghị thông qua tuyên bố tầm nhìn, một bước tiến quan trọng trong quan hệ ASEAN- Ấn Độ. Tuyên bố có viết: “Chúng tôi cam kết tăng cường hợp tác để đảm bảo an ninh, tự do hàng hải và sự an toàn của các tuyến đường giao thông trên biển, thúc đẩy tự do thương mại theo luật pháp quốc tế bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS)”.
Phan Yến
Theo Eurasiareview

Khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

“Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” (dẫn theo “Các văn kiện chính thức xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…”


Ngày 7.9.1951, cũng tại hội nghị có phái đoàn 51 quốc gia tham dự tổ chức ở San Francisco (Mỹ), Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại đã long trọng tuyên bố, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam: “Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.
Quần đảo Hoàng Sa có tổng diện tích khoảng 16.000km2, nằm giữa 15045-17015 vĩ độ Bắc và 1110-1130 kinh độ Đông, với trên 30 đảo, đá, cồn, bãi, hòn lớn nhỏ và tập trung thành 2 nhóm đảo chính là nhóm Nguyệt Thiềm (Crescent Group) ở phía tây nam và nhóm An Vĩnh (Amphitrite Group) ở phía đông bắc.

Hội nghị Hiệp ước hòa bình San Francisco năm 1951.
Trong đó, đảo Hoàng Sa (Pattle Island) là đảo lớn nhất trong nhóm Nguyệt Thiềm; và đảo Phú Lâm (Woody Island) là đảo lớn nhất nằm trong nhóm An Vĩnh. Hiện nay, quần đảo Hoàng Sa là đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc TP.Đà Nẵng.
Từ thế kỷ XV, Nhà nước Việt Nam đã tiến hành những hoạt động khai phá, xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc lại tuyên bố chủ quyền của mình trên quần đảo này, đây cũng là thời điểm bắt đầu diễn ra cuộc tranh chấp căng thẳng, phức tạp giữa Trung Quốc và Việt Nam, kéo dài đến nay.
Cộng đồng quốc tế thừa nhận chủ quyền Việt Nam
Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân đại diện cho Việt Nam thực thi và bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa. Ngày 14.10.1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý quần đảo này. Thủ hiến Trung phần Việt Nam lúc bấy giờ là Phan Văn Giáo đã chủ tọa việc chuyển giao quyền hành quản lý quần đảo Hoàng Sa. Thời điểm này diễn ra một sự kiện quan trọng, đó là hội nghị được tổ chức tại San Francisco, California (Mỹ) giữa lực lượng Đồng minh và Nhật Bản.
Hội nghị diễn ra từ ngày 5 đến 8.9.1951, có phái đoàn của 51 quốc gia tham dự để thảo luận về vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á – Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Trong hội nghị này, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc không được mời tham dự do giữa Mỹ và Liên Xô không thống nhất được ai là người đại diện chính thức cho quyền lợi của Trung Hoa. Vấn đề chính được đưa ra thảo luận là dự thảo Hiệp ước Hòa bình giữa các nước trong phe Đồng minh với Nhật Bản do Anh – Mỹ đưa ra ngày 12.7.1951 nhằm chính thức kết thúc Thế chiến hai ở châu Á – Thái Bình Dương.

Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại ký kết tại Hội nghị San Francisco năm 1951.
Ngày 5.9.1951, Ngoại trưởng Gromyko của Nhật Bản đã đề nghị 13 khoản tu chính. Trong đó, có khoản tu chính liên quan đến việc Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam. Khoản tu chính này đã bị Hội nghị bác bỏ với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Như vậy, cái gọi là danh nghĩa chủ quyền Trung Quốc đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ của một hội nghị quốc tế.
Ngày 7.9.1951, cũng tại hội nghị có phái đoàn 51 quốc gia tham dự tổ chức ở San Francisco (Mỹ), Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại đã long trọng tuyên bố, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam: “Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” (dẫn theo “Các văn kiện chính thức xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Pháp thuộc đến nay”.
Tập san Sử Địa số 29/1975, Sài Gòn, trang 286). Sau tuyên bố của phái đoàn Việt Nam, không có một đại biểu nào trong hội nghị bình luận gì. Ngày 16.3.1974, trả lời phỏng vấn Trung tâm Thông tin Việt Nam tại Paris, ông Trần Văn Hữu cho biết: “Với tánh cách chủ tịch phái đoàn đại diện cho toàn cõi Việt Nam, trong một bài diễn văn đọc ngày bế mạc hội nghị, tôi long trọng tuyên bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên cả quần đảo Hoàng Sa.
50 phái đoàn cường quốc yên lặng nghe lời tuyên bố của phái đoàn Việt Nam, tức là lời tuyên bố dưới lá cờ quốc gia, nét son nền vàng, đã được hoàn toàn công nhận, không gặp một quốc gia nào phản đối” (Việt Nam Cộng Hòa – Bộ Dân vận và Chiêu hồi. Hoàng Sa – Lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Tháng 3-1974, trang 52).
Kết thúc hội nghị là việc ký kết Hòa ước với Nhật ngày 8.9.1951. Trong hòa ước này, ở Điều 2, đoạn 7, ghi rõ: “Nhật Bản khước từ mọi chủ quyền và đòi hỏi đối với tất cả các lãnh thổ mà họ chiếm bằng vũ lực trong đệ nhị thế chiến, trong số đó có các đảo Trường Sa và Hoàng Sa” (Việt Nam Cộng Hòa – Bộ Dân vận và Chiêu hồi. Tlđd, trang 51).
Trung Quốc chiếm Hoàng Sa
Về phía Trung Quốc, khi thấy bị gạt ra khỏi hội nghị, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã phản ứng bằng cách ra một số bản tuyên bố chính thức, đồng thời cho đăng các bài báo để lên án Mỹ về việc không mời Trung Quốc tham dự hội nghị để trình bày quan điểm của mình. Một trong những quan điểm này là chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
“50 phái đoàn cường quốc yên lặng nghe lời tuyên bố của phái đoàn Việt Nam, tức là lời tuyên bố dưới lá cờ quốc gia, nét son nền vàng, đã được hoàn toàn công nhận, không gặp một quốc gia nào phản đối”.Ông Trần Văn Hữu
Tuy tuyên bố Hoàng Sa lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng Trung Quốc lại không đưa ra được một chi tiết nào để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc đối với 2 quần đảo này.
Sau Hội nghị San Francisco, 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn do lực lượng trú phòng của chính quyền Bảo Đại quản lý. Đến năm 1954, đất nước Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc, 2 quần đảo này được đặt dưới sự quản lý hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Ngày 19.1.1974, Trung Quốc ngang nhiên cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế, cũng như hiến chương Liên Hợp Quốc, Hiệp định Paris ngày 27.1.1973 mà họ đã cam kết tôn trọng, và chứng thư sau cùng ngày 2.3.1973 của hội nghị thế giới về Việt Nam mà Trung Quốc là một nước ký tên vào.
Vũ Hoài An