CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996                                  TIN TỔNGHỢP                     GIÃ SỬ                         QUÂNSỰ                    CHUYỆN LẠ              WEB                                    

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

Tàu chiến TT400TP tác chiến thế nào trên Biển Đông?

Tin Tức Quốc Tế
Tin Biển Đông VN
Ngôi Sao


Với hỏa lực trung bình, chỉ có pháo và tên lửa đối không tầm thấp, tàu chiến đấu mặt nước TT400TP của Việt Nam sẽ tác chiến thế nào trên Biển Đông?



Trong những năm qua, nghành công nghiệp đóng tàu quân sự Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể. Đặc biệt nhất đó là việc thiết kế và đóng thành công tàu pháo TT-400TP hiện đại.

Tàu pháo TT-400TP do nhà máy đóng tàu Hồng Hà (Z173) thiết kế chế tạo. Tàu có lượng giãn nước toàn tải 480 tấn, dài 54,16m, rộng 9,16m, mớn nước 2,7 m. 

Tàu có thể đạt tốc độ tối đa 32 hải lý/giờ, tầm hoạt động 2.500 hải lý khi tàu chạy ở tốc độ kinh tế 14 hải lý/giờ. Tàu có thể hoạt động liên tục trên biển 30 ngày đêm, có khả năng tác chiến trong điều kiện sóng cấp 5 và chạy trong điều kiện gió cấp 9, 10 và sóng cấp 8. 

Về hỏa lực, TT-400TP trang bị pháo hạm AK-176 cỡ nòng 76,2mm (tầm bắn khoảng 15km), pháo phòng không cao tốc AK-630 (tầm bắn 4km, tốc độ bắn 5.000 phát/phút), 2 đại liên 14,5mm và tên lửa phòng không tầm thấp Igla (16 quả).

Tàu pháo TT-400TP (HQ-272) của Hải quân Nhân dân Việt Nam.

Việc đóng thành công tàu pháo TT-400TP là thành công lớn của công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Từ việc đóng tàu pháo với hệ thống vũ khí được tự động hóa cao, đòi hỏi sự ổn định, chính xác với yêu cầu kĩ thuật vô cùng khắt khe, các kĩ sư của chúng ta sẽ quen dần với thiết kế tàu chiến. Và sẽ có lời giải tối ưu nhất cho những bài toán hóc búa của công nghiệp đóng tàu.

Câu hỏi đặt ra là tàu pháo TT-400TP đóng vai trò gì trong tác chiến hải quân hiện đại, khi mà tên lửa chống tàu đã trở thành vũ khí chủ lực trong nhiệm vụ diệt tàu. Vì thế một chiếc tàu, với trang bị mạnh nhất là pháo cỡ 76,2mm có vị trí như thế nào trong tác chiến ở Biển Đông?

Trên lý thuyết, tàu pháo TT-400TP có thể thực hiện 4 nhiệm vụ: 

- Tiêu diệt tất cả tàu chiến đổ bộ và tàu hộ tống của địch
- Bảo vệ căn cứ và các tàu đổ bộ, tàu hộ tống, tàu bảo đảm chiến đấu, hỗ trợ hỏa lực cho tàu đổ bộ 
- Bảo vệ tàu dân sự trên biển
- Trinh sát chiến thuật, cảnh giới mặt nước.

Tuy nhiên, thực tế, liệu tàu chiến đối phương mang tên lửa diệt hạm chống tàu bắn xa hàng trăm km có để cho tàu pháo, với tầm bắn xa nhất 15km tiếp cận để tiêu diệt không? 

Trước hết, có một quan điểm, cho rằng tàu chiến hải quân có một số tính chất, tùy theo nhiệm vụ của chúng. Ví dụ như tính chất đối kháng diệt tàu, tính chất tấn công nhanh (đánh nhanh và bất ngờ, điển hình là các tàu phóng lôi trước đây và tàu tên lửa cao tốc hiện nay), tính chất hộ vệ (chiến đấu chống các tàu lớn, bảo vệ tàu bạn), tính chất khu trục (đánh chặn các tàu ngầm, tàu phóng lôi hay tàu cao tốc tên lửa), tính chất tuần tiễu, tính chất yểm trợ hỏa lực, dọn bãi đổ bộ … Lưu ý rằng cần phân biệt những tính chất này với tên gọi của các loại tàu. Ví dụ như tàu tên lửa cao tốc Project 1241.8/1241RE được xếp vào lớp tàu hộ vệ, nhưng có tính chất nổi trội là tấn công nhanh.

So sánh ở trên đây, chúng ta nhận thấy rằng tàu pháo TT-400TP không có những tính chất nổi trội về mặt tác chiến diệt tàu, không thể tấn công nhanh và bất ngờ tàu địch như tàu tên lửa cao tốc, không có khả năng chống ngầm, không thể hộ tống các đoàn tàu vận tải, tàu bảo đảm một cách có hiệu quả trước những tàu địch trang bị mạnh… TT-400TP chỉ thể hiện được khả năng của mình trong nhiệm vụ tuần tiễu và yểm trợ hỏa lực trong tác chiến đổ bộ. 

Thực tế thì các loại vũ khí của TT-400TP như pháo AK-176, pháo phòng không AK-630 đều là trang bị tiêu chuẩn trên các tàu chiến mới của Hải quân Nhân dân Việt Nam như Gepard. Nhưng ưu thế của TT-400TP so với các tàu chiến kể trên đó là giá thành. Một chiếc TT-400TP được sản xuất trong nước có giá gần 1 triệu USD, trong khi các tàu Gepard hay Project 1241.8 Molniya có giá từ hàng chục đến cả trăm triệu USD.

Công nhân nhà máy Z173 lắp pháo AK-630 lên tàu TT-400TP.

Đầu tiên, trong nhiệm vụ tuần tiễu, đặc biệt là tuần tra kiểm soát mặt biển, bảo vệ chủ quyền, tàu TT-400TP cũng có những ưu thế nhất định. 

Các tàu tên lửa của Hải quân Nhân dân Việt Nam như Gepard 3.9 hay Project 1241.8 Molniya, Project 1241RE Taratul có số lượng quá ít để kiểm soát một vùng biển rộng hơn 1 triệu km2. Còn các tàu vận tải thông thường thiếu đi hệ thống trinh sát mặt biển, khả năng chịu sóng to gió lớn.

Với dự trữ hành trình dài (hoạt động liên tục trên biển 30 ngày, so với tàu Project 1241.8/1241RE chỉ có 10 ngày), chịu được sóng gió, cùng khả năng trinh sát, phát hiện mục tiêu bằng radar, TT-400TP là phương tiện tuần tra hiệu quả cao nhất. Tàu có thể phối hợp cùng các tàu của Cảnh sát Biển làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, hỗ trợ ngư dân.

Trong nhiệm vụ này, chỉ cần pháo AK-176 76,2mm là đủ để răn đe có hiệu quả những tàu nước ngoài lăm le xâm phạm mà không cần đến những tàu chiến hiện đại mang tên lửa diệt hạm. Nếu Việt Nam sản xuất được số lượng lớn tàu TT-400TP, thì có thể duy trì sự hiện diện liên tục của các lực lượng bảo vệ chủ quyền trên biển.


Pháo hạm AK-176 của TT-400TP sẽ rất hữu hiệu trong yểm trợ hỏa lực đổ bộ đường biển. Ảnh minh họa

Đối với nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực đổ bộ (trong chiến dịch đổ bộ đường biển), tàu TT-400TP với giá thành rẻ và số lượng lớn sẽ tạo ra được hỏa lực dày đặc với mật độ cao quét sạch ổ đề kháng tạo điều kiện cho đơn vị cơ giới và binh lính đánh chiếm bờ biển. 

Trong khi đó, hộ vệ tàng hình Gepard hay tàu tên lửa cao tốc sẽ tập trung “chuyên môn” vào việc diệt tàu chiến mặt nước đối phương, bảo vệ đội tàu đổ bộ và TT-400TP.

Còn trong tác chiến đối hải, tàu pháo TT-400TP có thể không phải là vũ khí hiệu quả trong tấn công mục tiêu mặt nước, nhưng là vũ khí hiệu quả khi phòng không trong biên đội tàu chiến.

Hải quân Nhân dân Việt Nam đã có truyền thống trong việc sử dụng tàu pháo đánh trả mục tiêu đường không trong kháng chiến chống Mỹ. Tiêu biểu là các tàu pháo K-210A 79 tấn hay K-62 100 tấn với những trang bị thô sơ (pháo 37mm, đại liên 14,5mm) vẫn bắn hạ được các máy bay hiện đại của Mĩ. 

Vì vậy, với tàu TT-400TP hiện đại được trang bị vũ khí pháo điều khiển tự động, có radar dẫn bắn, trang bị cả tên lửa phòng không tầm thấp thì khả năng tiêu diệt mục tiêu là rất cao. 

Pháo phòng không AK-630 của nhiều tàu TT-400TP hợp thành màn "lưới lửa" đánh chặn mọi tên lửa chống tàu đối phương. Ảnh minh họa

Tuy nhiên, đối tượng tác chiến chính của phòng không hạm tàu của Hải quân Việt Nam hiện nay không phải máy bay, mà là tên lửa hành trình chống tàu. 

Trong bối cảnh ta chưa có những vũ khí phòng không tầm trung – xa (như tên lửa 9M317 Shtil hay S-300F) thì chiến thuật phòng không cơ bản vẫn là tận dụng tối đa hỏa lực pháo và tên lửa của các tàu trong biên đội, mà đặc biệt là pháo phòng không cao tốc AK-630 để dựng màn đạn đánh chặn tên lửa diệt hạm của đối phương. 

Khi đó, hỏa lực pháo tàu của TT-400TP lại rất đắc dụng, vì có giá thành rất rẻ, dễ dàng sản xuất với số lượng lớn, để đi cùng biên đội tàu chiến đấu, làm nhiệm vụ hỗ trợ hỏa lực phòng không, sử dụng nhiều tàu để bảo vệ số tàu chiến chủ lực ít ỏi như Gepard hay Project 1241.8/1241RE. 

Có thể nói rằng, sức mạnh của tàu pháo TT-400TP không nằm ở hỏa lực của mình tàu, mà nằm trong thế trận phòng không toàn biên đội, nơi mà các tàu pháo, tàu tên lửa, khinh hạm yểm hộ chặt chẽ cho nhau.



Theo Kiến thức

Tàu phóng lôi còn thích hợp với Hải quân Việt Nam? (1)

Hải quân Việt Nam vẫn duy trì một số lượng nhỏ tàu phóng lôi và câu hỏi đặt ra liệu chúng còn thích hợp với tác chiến hải quân ngày nay?



* Bài viết có sử dụng một số tư liệu trích dẫn từ cuốn Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam và Lịch sử Lữ đoàn 172 Hải quân.Tàu phóng lôi là loại tàu chiến nhỏ nhẹ, có tốc độ cao, sử dụng ngư lôi làm vũ khí chính để tấn công diệt tàu địch. Hiện nay, trong biên chế Hải quân Nhân dân Việt Nam có một số tàu phóng lôi thuộc Project 206 lớp Shershen và Project 206ME lớp Turya. 

Trong đó, tàu phóng Project 206 lớp Shershen có lượng giãn nước toàn tải 172 tấn, dài 34,08m. Tàu được trang bị 2 pháo phòng không cao tốc AK-230, một bệ phóng tên lửa đối không tầm thấp SA-N-5 và 4 ống phóng ngư lôi cỡ 533mm. 

Còn tàu phóng lôi Project 206ME lớp Tuyra được cải tiến dựa trên Shershen có kích cỡ lớn hơn một chút. Tàu có lượng giãn nước toàn tải 250 tấn, dài 39,6m. Tàu được trang bị tháp pháo 2 nòng cỡ 25mm, tháp pháo AK-257 2 nòng cỡ 57mm và 4 ống phóng ngư lôi cỡ 533mm.

Hai tàu đều dùng loại ngư lôi 53-VA cỡ 533mm có chiều dài 7,9m, nặng 2 tấn và lắp đầu nổ nặng 210km. Ngư lôi có độ sâu chiến đấu 6-8m, độ sâu sục sạo 12-16m, tốc độ 29km/h, cự li bắn 11km.

Tàu phóng lôi lớp Tuyra (số hiệu HQ-334) biên chế trong Hải quân Nhân dân Việt Nam.

Trong thời đại của tên lửa chống tàu, câu hỏi về vai trò của tàu phóng lôi trong tác chiến hải quân cũng bị đặt ra rất gay gắt, thậm chí hơn cả các tàu pháo. Rõ ràng, pháo hạm tàu hay ngư lôi khó có thể so sánh với tên lửa chống tàu về tầm bắn. Nhưng trong khi pháo hạm tàu có thể sử dụng cho những nhiệm vụ khác như phòng không hay yểm hộ hỏa lực cho lực lượng đổ bộ thì ngư lôi chỉ có nhiệm vụ diệt tàu là duy nhất.

Tác chiến tàu phóng lôi mang đặc trưng là tấn công nhanh, sử dụng tốc độ để áp sát tàu địch, phóng ngư lôi và rút lui nhanh chóng. Tuy nhiên, hiện nay, tàu phóng lôi hầu như không còn tận dụng được những ưu thế đó nữa. Lý do, tàu địch mang tên lửa chống tàu có tầm bắn xa hàng trăm km, vượt xa tầm bắn của ngư lôi. Thừa kế khả năng tấn công nhanh của tàu phóng lôi chính là các tàu tên lửa cao tốc hiện nay. 

Khi mà ngư lôi không còn là vũ khí hiệu quả nữa, thì vai trò của tàu phóng lôi trong lực lượng hải quân là gì? 

Có những quan điểm cho rằng, trong thời đại ngày nay, tàu phóng lôi có thể sử dụng yếu tố lợi thế địa hình, địa vật gần bờ, tấn công bất ngờ đội hình hành quân, đổ bộ của địch. Số khác cho rằng tàu phóng lôi có thể kết hợp với các trực thăng chống ngầm như Ka-25, Ka-28 để truy tìm tàu ngầm địch. Đó là những quan điểm thiếu chính xác, sai lầm, và sẽ bị bác bỏ bằng những ví dụ thực tiễn. 

Thứ nhất, tàu phóng lôi không đồng nghĩa với tàu săn ngầm. Tàu phóng lôi lớp Shershen hay Turya của Việt Nam chỉ được trang bị ngư lôi 53-VA với độ sâu chiến đấu từ 6-8m không thể diệt tàu ngầm. Đây là tàu phóng lôi, để diệt tàu mặt nước, mang những đặc điểm, tính chất giống như tàu tên lửa cao tốc ngày nay. Chỉ có ngư lôi SET-53M trang bị trên các tàu hộ vệ chống ngầm Petya mới có khả năng diệt tàu ngầm.

Thứ hai, ý kiến về việc tàu phóng lôi có thể lợi dụng địa hình, địa vật gần bờ để bất ngờ tấn công tàu địch cũng không thuyết phục. Điều này được lí giải bằng hai trận đánh của tàu phóng lôi Hải quân Nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Tàu phóng lôi kiểu 123K của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Và thật trùng hợp, hai trận đánh này đều liên quan đến 3 chiếc tàu phóng lôi huyền thoại số hiệu 333, 336 và 339 (thuộc Phân đội 3, Đoàn 135). Đây là 3 trong số 12 tàu phóng lôi đầu tiên của Hải quân Nhân dân Việt Nam. 

3 chiếc đều thuộc loại  tàu phóng lôi vỏ nhôm kiểu 123K, dài 19,3m, rộng 3,6m, mớn nước 1,35m và lượng giãn nước 50 tấn. Trang bị có hai ống phóng ngư lôi 450mm (ngư lôi 45-36 nặng khoảng 1 tấn) và đại liên nòng kép 14,5mm. 

Trận đánh đầu tiên là với tàu khu trục Maddox của Mỹ trên vùng biển Thanh Hóa ngày 2/8/1964. Trận đánh này được coi là một biểu tượng chiến thắng của Hải quân Nhân dân Việt Nam, khi 3 tàu phóng lôi bé nhỏ đã dũng cảm chiến đấu với quân địch đông gấp bội, đánh trả máy bay địch, đuổi tàu Maddox khỏi vùng biển miền Bắc. 

Tuy nhiên, sẽ thật duy ý chí nếu như dựa vào thắng lợi trận đầu của Hải quân Nhân dân Việt Nam để tin rằng với truyền thống đó, tàu phóng lôi Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy sức mạnh trong thời đại ngày nay. Các thủy thủ của ta đã chiến đấu rất dũng cảm, nhưng trận đánh này cũng bộc lộ nhiều thiếu sót chiến thuật và những hạn chế thuộc về tính chất của tàu phóng lôi: 

- Thứ nhất, hạn chế cơ bản của tàu phóng lôi cũng như các tàu tên lửa cao tốc hiện nay, đó là tập trung vào vũ khí chống tàu chính (ngư lôi và tên lửa chống tàu) và tốc độ cao, nên khả năng chống ngầm, phòng không rất yếu. Vì vậy, tàu phóng lôi, cũng như tàu tên lửa cao tốc phải nằm trong biên đội tàu chiến đấu, có phương tiện, khí tài săn ngầm, có phòng không đủ mạnh mới có thể phát huy hiệu quả.

- Thứ hai, để phát huy được khả năng tấn công nhanh, bảo toàn được lực lượng tránh đòn phản công đáp trả của quân địch, tàu phóng lôi phải giữ được yếu tố bất ngờ, dựa vào địa hình, thời tiết… 

Trong trận đánh ngày 2/8/1964, theo như kế hoạch rất tài tình của Tham mưu Hải quân, biên đội tàu phóng lôi hành quân từ cảng Vạn Hoa đến vị trí tập kết lúc 2h sáng, đánh địch trong đêm, ở vị trí gần bờ, gần đảo, đánh bất ngờ và rút lui nhanh chóng. 

Thêm vào đó, để chống lại các máy bay F-8 rất nguy hiểm của địch, hai tàu pháo K-210A mang số hiệu 140 và 146 đóng ở Thanh Hóa cũng được lệnh ra khơi, sử dụng pháo 37mm, đại liên 14,5mm gắn trên tàu để yểm hộ cho biên đội tàu phóng lôi của ta. Trong đêm, máy bay địch đã rất khó hoạt động hiệu quả, lại vướng phải hỏa lực phòng không của tàu pháo, sẽ bị đánh hất lên cao, tạo điều kiện cho tàu phóng lôi tiến vào công kích.

Biên đội 3 tàu phóng lôi (dấu đỏ) trong trận đánh tàu Maddox ngày 2/8/1964.

Nhưng thực tế đã diễn ra hoàn toàn khác, do sóng to gió lớn, tàu phóng lôi hành quân đến quá muộn, khi đã 8h sáng. Lúc này, tàu Maddox đã di chuyển lên phía tây bắc Hòn Mê. Tình hình chiến thuật đã khác. Nhưng do nôn nóng, muốn lập công, ta vẫn cho biên đội tàu xuất kích giữa trưa, và ở địa hình trống trải không có chi viện. Phối hợp tác chiến hết sức lỏng lẻo tuỳ tiện. Ý định là phải thống nhất kế hoạch với tàu tuần tiễu đi theo yểm trợ trước, rồi mới xuất kích. 

Nhưng biên đội tấn công vừa tới nơi thì đã được lệnh xuất kích ngay. Tàu phóng lôi có tốc độ gấp 3 lần tàu tuần tiễu nên giãn cách giữa hai đội tàu ngày càng xa, đội tàu tuần tiễu giữa đường phải quay trở lại, để biên đội phóng lôi đi đánh đơn độc. Lúc này sở chỉ huy tìm cách gọi tàu về, nhưng đã mất liên lạc với các tàu, đành phải đợi thông báo tình hình từ các trạm quan sát bằng mắt. Điều này dẫn đến tàu hải quân ta bị máy bay địch quây đánh dồn dập, phóng rocket gây thiệt hại nặng nề, thủy thủ bị hi sinh. 

Khi thực hành phóng lôi, hoặc sử dụng các loại hoả lực khác, đều phải có sự hiệp đồng chặt chẽ, để cả phân đội đồng loạt công kích mới đem lại hiệu quả cao. Trong trận chiến đấu này, tàu ta bị hạn chế về tốc độ, nên không chiếm được góc mạn có lợi theo yêu cầu chiến thuật. Hầu hết các tàu đều phải phóng lôi ở góc từ 80-120 độ, cự li từ 6-7 liên do vậy hiệu quả rất hạn chế, ngư lôi bị tàu địch đánh chặn bằng bom chìm. Mặt khác, các tàu lại không áp dụng thủ đoạn phóng lôi đồng loạt mà phóng lần lượt từng tàu, nên địch có điều kiện và thời gian để đối phó...

Sau khi phóng lôi xong, đến giai đoạn thực hành đánh máy bay địch thì hầu hết vũ khí và phương tiện đều bị trục trặc (tàu 339 cả hai loại súng trung liên và 14,5mm đều bị hỏng; tàu 333 khi tiếp cận tàu địch thì chỉ còn một quả ngư lôi, một quả trước đó phải phóng bỏ vì không an toàn; tàu 336 bị hết dầu giữa đường do bị bắn thủng két dầu…). 

Việc chuẩn bị mạng thông tin liên lạc cho tác chiến biển cũng còn những hạn chế. Trong suốt quá trình chiến đấu, mạng thông tin liên lạc giữa phân đội tàu với trung tâm chỉ huy liên tục bị gián đoạn. Do đó, việc điều động lực lượng hỗ trợ đánh trả không quân địch gần như không thực hiện được.



Theo Kiến thức

"Mãnh hổ" Kilo Việt Nam ra uy thế nào?

Tin Tức Quốc Tế
Tin Biển Đông VN
Ngôi Sao

 Mục tiêu của tàu ngầm bao gồm tàu sân bay, tàu đổ bộ, tàu vận tải, tàu ngầm, tàu tuần dương, tàu khu trục, các chiến hạm chống ngầm... Và đương nhiên cả các khu căn cứ hải quân, hải cảng, mục tiêu cố định trên mặt đất.


Sự phát triển của công nghệ hiện đại đã xuất hiện hai chủng loại tàu ngầm khác nhau, đó là tàu ngầm năng lượng hạt nhân và tầu ngầm diesel-điện. cả hai chủng loại tàu đều có những tính năng kỹ thuật khác nhau, từ đó mỗi loại tàu ngầm có một ưu điểm riêng biệt và có những nhiệm vụ đặc trưng riêng. 

Hiện nay, các cường quốc hải quân, sở hữu các tàu ngầm hạt nhân, đang có xu hướng nâng cấp, hiện đại hóa và chế tạo các tàu ngầm hạt nhân đa nhiệm, có khả năng thực hiện những nhiệm vụ cấp chiến lược, đồng thời cũng thực hiện các nhiệm vụ thông thường, cấp chiến dịch và chiến thuật.

Trong lĩnh vực tác chiến cấp chiến dịch chiến thuật, tàu ngầm diesel-điện như Kilo 636 của Việt Nam đóng vai trò lực lượng tấn công chủ lực, đặc biệt thích hợp tác chiến trong các vùng nước hẹp, nông như Biển Đông. Trong lĩnh vực bảo vệ an ninh biên giới biển, bảo vệ vùng lợi ích kinh tế, tàu ngầm diesel – điện là lực lượng thường trực chiến đấu, đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ phòng thủ vùng biển đất nước.

Nhiệm vụ chủ yếu của tàu ngầm Kilo 

Trong thời bình: 

Tìm kiếm, truy quét và theo dõi các tàu ngầm chiến lược của đối phương, bí mật theo dõi và nắm chắc mọi hoạt động các cụm binh lực hải quân chủ lực (CVBG) của đối phương, sẵn sàng tiến hành các đòn tấn công nhanh chóng và quyết liệt, bẻ gãy mọi âm mưu xâm phạm chủ quyền, xâm lược biên giới, hải đảo khi xảy ra tình huống chiến tranh.





Tiến hành các hoạt động tuần tiễu, sẵn sàng chiến đấu trên các tuyến phòng thủ chống ngầm;


Luôn giữ vững và tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu của binh chủng, duy trì vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu ở cấp độ sẵn sàng chiến đấu cao nhất. 

Không để đối phương nắm bắt được những hoạt động của lực lượng tàu ngầm (căn cứ, các tuyến cơ động, vị trí đóng quân tạm thời, tuyến hành lang tuần tiễu chống ngầm ..v.v).

Trong thời chiến: 

Nhiệm vụ quan trọng thứ nhất của tàu ngầm là tiêu diệt các tàu ngầm các loại của đối phương; thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trên tuyến phòng ngự chống ngầm nhằm bảo toàn lực lượng hải quân tham gia tác chiến; bí mật, bât ngờ tiêu diệt các cụm tàu chủ lực tấn công của đối phương, các chiến hạm và các tàu vận tải; triển khai các trận địa thủy lôi phục kích hoặc phòng ngự; tiến hành các hoạt động trinh sát đối phương, dẫn đường cho các lực lượng không – hải tấn công lực lượng hải quân đối phương; 

Chỉ thị mục tiêu cần tiêu diệt – bao gồm cả chiến hạm nổi và tàu ngầm; đổ bộ lực lượng bộ đội đặc công, bộ đội đặc nhiệm, bộ đội trinh sát, vận chuyển vũ khí đạn, nhu yếu phẩm cho các vị trí xung yếu cần giữ bí mật hoặc bị phong tỏa; tiến hành các hoạt động trinh sát tuyến hành quân, thủy văn môi trường và khí tượng thủy văn nhằm đảm bảo cho các hoạt động tác chiến: cứu hộ các phi hành đoàn không quân hải quân; tấn công tiêu diệt các mục tiêu trên khu vực đối phương đánh chiếm hoặc các mục tiêu quan trọng trong lãnh thổ đối phương. 

Ngọa hổ tàng long và mục tiêu ưa thíchNhững tính chất đặc trưng của tàu ngầm diesel – điện hiện đại ngày nay, đó là tập hợp những tính năng chiến thuật và những tính chất đặc trưng kỹ thuật, từ đó xác định được khả năng thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu được giao cho binh chủng tàu ngầm.




Tàu ngầm là phương tiện chiến đấu mà ưu thế của nó chủ yếu dựa và tính chất đặc trưng nhất – tuyệt đối bí mật trong mọi hoạt động chiến đấu trên biển. Do đặc điểm môi trường tác chiến, vũ khí trang bị và tốc độ cơ động, tàu ngầm phải đảm nhiệm những nhiệm vụ chiến đấu ở dưới biển, yếu tố bí mật – bất ngờ đóng vai trò quyết định sự sống còn và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Yếu tố bí mật được thể hiện trên 3 yếu tố chính: 

- Không bị đối phương phát hiện trong mọi hoạt động thời bình và thời chiến;

- Khả năng phát hiện được đối phương đang theo dõi;

- Khả năng thoát ra khỏi sự truy quét và duy trì lại khả năng giữ bí mật ban đầu;
Để duy trì được tính bí mật trong mọi hoạt động tác chiến, tàu ngầm diesel – điện và thủy thủ đoàn cần duy trì những yêu cầu kỹ chiến thuật sau: 


- Mọi hoạt động của các trang thiết bị trong tàu phải đảm bảo độ ồn thấp nhất (quy trình hoạt động của các trang thiết bị, khí tài, các bộ phận trong tầu phải hoạt động theo các quy chuẩn kỹ thuật, duy trì cường độ âm thanh ở mức thấp nhất;

- Đảm bảo giữ gìn tình trạng kỹ thuật của tàu luôn ở trạng thái hoạt động tốt nhất, đáp ứng mọi chuẩn kỹ thuật của nhà sản xuất, từ đó giảm được cường độ các trường vật lý trên tầu ở mức độ thấp nhất;

- Lựa chọn được phương án cơ động tốt nhất.

Những hình thái chiến thuật chủ yếu của tàu ngầm diesel điện.

- Cơ động vượt biển, triển khai đội hình sẵn sàng chiến đấu

- Trinh sát theo dõi mục tiêu

- Tác chiến chống các chiến hạm nổi của đối phương

- Tác chiến chống tàu ngầm

- Vượt phòng tuyến chống ngầm của đối phương

- Cơ động phục kích đánh địch

- Tấn công các mục tiêu ven biển bằng tên lửa phóng từ tàu ngầm. 

Do đặc điểm bí mật của tàu ngầm diesel – điện, các đối tượng tác chiến của tàu ngầm được đánh giá theo mức độ ưu tiên và ý nghĩa của mục tiêu. 

Nhóm mục tiêu hàng đầu của tàu ngầm là: tàu sân bay các loại, tàu đổ bộ, tàu vận tải cơ sở vật chất đi cùng, tàu vận tải hàng hóa trang thiết bị. Đây cũng là các mục tiêu quan trọng bậc nhất của hạm đội đối phương khi tiến hành tác chiến trên biển xa, được bảo vệ cẩn mật nhất do đặc điểm kém hơn về hệ thống phòng thủ chống ngầm và chống tên lửa hành trình. Sự tổn thất của các chiến hạm này sẽ gây khó khăn rất lớn cho đối phương khi tiến hành các hoạt động tác chiến.

Nhóm mục tiêu đứng hàng thứ hai trong lực lượng hải quân đối phương sẽ là các tàu ngầm, đặc biệt là các tầu ngầm nguyên tử và các tầu ngầm diesel - điện hiện đại mang tên lửa hành trình. Trên phòng tuyến chống ngầm của thế trận phòng ngự biển đảo, trọng trách chống ngầm sẽ được giao chủ yếu cho tàu ngầm diesel - điện.

Nhóm mục tiêu thứ 3 của của tàu ngầm là các chiến hạm nổi như tàu tuần dương, khu trục, hộ vệ tên lửa, các chiến hạm chống ngầm.

Nhóm mục tiêu thứ 4 của tàu ngầm diesel – điện là các mục tiêu ven biển, mặt đất như các khu căn cứ hải quân, hải cảng, các tàu neo đậu và các cụm mục tiêu cố định trên mặt đất khác……

Cơ động vượt biển và triển khai đội hình thực hiện nhiệm vụ chiến đấu:

Cơ động hành quân đến điểm tập kết và triển khai đội hình chiến đấu có thể được thực hiện bởi một tàu ngầm, một phân đội tàu ngầm hoặc một cụm chiến hạm hiệp đồng binh chủng. 

Cơ động hành quân và triển khai đội hình tác chiến là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của tàu ngầm diesel – điện trong cả thời chiến lẫn thời bình. Trên thực tế, do đặc điểm yêu cầu nhiệm vụ, lực lượng tàu ngầm không có thời bình. Do đó, để giữ được tuyệt đối các yếu tố bí mật khi thực hiện nhiệm vụ. Các tàu ngầm thường xuyên hoạt động trong tình huống cảnh giác cao độ và tránh bị phát hiện.

Tuyến cơ động đường biển bắt đầu từ căn cứ tập kết tàu ngầm, tuyến triển khai đội hình hành quân, đường hành quân, vị trí tập kết và triển khai đội hình thực hiện nhiệm vụ. 

Để giữ được bí mật cao nhất, khu tập kết hành quân được quyết định theo mệnh lệnh của cấp chỉ huy cao nhất khu vực phòng thủ hoặc tư lệnh trường Vùng hải quân và được giữ bí mật đến thời điểm phát lệnh hành quân. Trong thời gian đó, các tàu ngầm thực hiện nhiệm vụ bổ xung vũ khí, đạn, phương tiện chiến đấu và thực hiện các công tác kỹ thuật. Sau khi nhận lệnh xuất phát các tàu ngầm diesel – điện hướng về khu vực tập trung bí mật.

Tại khu vực tập trung bí mật, các chỉ huy trưởng nhận nhiệm vụ cơ động hành quân về khu tập kết – bàn đạp để thực hiện nhiệm vụ, đồng thời cũng nhận được các chỉ lệnh cần thiết về đường hành quân, địa hình đáy biển, các thông số về thủy văn, môi trường, thời tiết, các hướng dẫn về hoa tiêu, dẫn đường, hướng đi, các điểm định hướng bẻ góc lái, các độ sâu duy trì hoạt động, khu vực có hoạt động các các loại tàu, khu vực có thể có thủy lôi, tàu ngầm nguyên tử đối phương hoặc tuyến phòng ngự trinh sát chống ngầm đối phương. Thời gian và khu vực tập kết. Các quy định về thông tin liên lạc, các quy định về công tác truy tìm đồng đội.

Qua trình cơ động trên biển là quá trình hành quân chiến đấu trong điều kiện phức tạp của khu vực tác chiến, các tàu ngầm xuất phát từ vị trị triển khai đội hình hành quân, nghiêm ngặt tuân thủ các quy định về bảo mật và thông tin, cơ động ở độ sâu theo chỉ định, đồng thời tập trung quan sát, theo dõi mọi tình huống diễn ra dưới biển, thông thường không liên lạc ở chế độ phát, mà chỉ nhận mệnh lệnh thụ động. các trường hợp trao đổi thông tin với cấp trên hoặc với tàu bạn phải rất nhanh, ngắn, trên tần số bảo mật.





Cơ động hành quân ngầm


Để đảm bảo cơ động bị mật, an toàn, đội hình cơ động phải được duy trì chặt chẽ, tuyến đường hành quân, vị trí các tàu ngầm phải được xác định chính xác và theo dõi chặt chẽ nhằm tránh khả năng lạc đội hình, cơ động lệch hướng hoặc bộc lộ những nhược điểm có thể gây mất an toàn, kẻ thù có thể xác định được có tàu ngầm đang hoạt động trong khu vực.

Cơ động của lực lượng tàu ngầm nằm trong một kế hoạch tác chiến hiệp đồng quân binh chủng rộng lớn, bao gồm các lực lượng trinh sát, cảnh giới, các lực lượng tuần biển và hoạt động chống ngầm, các lực lượng hải quân mặt nước và phòng thủ bờ biển. Tuyến hành lang hành quân của tầu ngầm được đảm bảo an toàn, tránh được các khu vực, trận địa chống ngầm của đối phương, khu vực hoạt động của các lực lượng chiến hạm nổi và ngầm đối phương, khu vực hoạt động thương xuyên của lực lượng không quân hải quân đối phương, đồng thời nằm trong tầm kiểm soát chặt chẽ của không quân – hải quân ta.

Cơ động hành quân của tàu ngầm diesel điện, do các tính năng kỹ thuật hạn chế hơn so với tàu ngầm nguyên tử, còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu, thủy văn, môi trường, dòng nước ngầm trong biển. Điều này đòi hỏi người sĩ quan chỉ huy, hoa tiêu, thủy thủ đoàn phải rất thông thuộc, hiểu cặn kẽ đến từng chi tiết vùng nước, vùng biển trong hành lang cơ động của tàu ngầm, có phản ứng nhanh nhẹn sáng tạo, hiểu biết sâu và chắc tính năng kỹ thuật tàu ngầm, các bộ phận, các trang thiết bị trên tàu, đồng thời phải liên tục nắm bắt và xử lý kịp thời được những thông số thu được thường xuyên về tình hình môi trường biển, hành động cụ thể, kiên quết và chính xác nhằm duy trì được khả năng hoạt động tối ưu nhất của tàu ngầm, duy trì được tốc độ và hải trình, hành quân đến điểm tập kết đúng thời gian quy định và hoàn toàn duy trì được tính bí mật trong hoạt động của mình. 

Trong các điều kiện tác chiến cụ thể, phân đội tàu ngầm cơ động đến một khu vực tập kết nhất định từ nhiều hướng khác nhau, do đó, cơ quan chỉ huy cấp trên sẽ quy định thời gian tập kết, khu vực tìm kiếm và phương thức tìm kiếm nhằm tập hợp lực lượng, sẵn sàng triển khai đội hình chiến đấu.

Đội hình chiến đấu được triển khai tùy theo yêu cầu nhiệm vụ được giao, có thể là: tuần thám khu vực được giao, trinh sát và theo dõi các lực lượng của đối phương, tấn công tiêu diệt lực lượng hải quân địch, phục kích chống ngầm, tấn công tiêu diệt các mục tiêu trên biển hoặc các mục tiêu trên bờ biển bằng tên lửa hành trình.v.v..

Trinh sát là một trong những hình thái chiến thuật quan trọng của những hoạt động tác chiến, được tổ chức nhằm mục đích nắm bắt, thu được thông tin và nghiên cứu, xử lý những thông tin thu thập được nhằm xác định về lực lượng đối phương bao gồm: số lượng, biên chế trang bị, tình trạng binh lực và khả năng, tính chất những hoạt động của đối phương và ý đồ tác chiến. Trinh sát cũng được thực hiện nhằm nắm bắt được những đặc điểm đặc trưng cụ thể của chiến trường, khu vực có thể xảy ra hải chiến. Trinh sát có thể ở cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Với tàu ngầm diesel điện, nhiệm vụ trinh sát thông thường được giao ở cấp chiến thuật do phụ thuộc vào những tính năng kỹ chiến thuật tàu ngầm.

Các phương tiện trinh sát tàu ngầm diesel điện được trang bị bao gồm: trinh sát thủy siêu âm, bằng các đài sonar trinh sát ở chế độ thụ động, các thiết bị thu thủy âm; trinh sát bằng đài thu radio thụ động, ở điều kiện tàu ngầm đang hoạt động ở độ sâu tiềm vọng và các an ten thu được đẩy lên trên mực nước biển và trinh sát bằng kính tiềm vọng;

Lựa thế rình mồiHoạt động tác chiến chống các tàu nổi được hiểu là hoạt động tác chiến chống một cụm không quân hải quân chủ lực CVBG, công kích các đoàn tàu quân sự, các đội tàu và các tàu hoạt động độc lập, lực lượng đổ bộ của đối phương và tác chiến trong đội hình binh chủng hợp thành, phối hợp tác chiến chống lại các cụm tàu chủ lực của đối trong một trận chiến đấu trên biển.

Tác chiến chống các cụm chiến hạm nổi thông thường sử dụng vũ khí chủ yếu là ngư lôi và tên lửa hành trình phóng từ tàu ngầm. Mục đích chính là đánh chìm hoặc gây tổn thất nặng nề cho đối phương ngay từ loạt đạn đầu tiên. Do đó, khi tiến hành các hoạt động tác chiến, phân đội tàu ngầm thường được chia thành đội trinh sát hỏa lực và đội công kích chủ lực.


Ngư lôi phóng từ tàu ngầm
Ngư lôi phóng từ tàu ngầm.
Chiến hạm trúng ngư lôi tàu ngầm
Chiến hạm trúng ngư lôi tàu ngầm.



Đội tàu ngầm trinh sát hỏa lực: Là một thành phần chiến thuật của đội hình chiến đấu, đội tàu ngầm có nhiệm vụ phát hiện mục tiêu cụm tàu đối phương, theo dõi, xác định các thông số chiến thuật như số lượng và chủng loại, tọa độ và hướng cơ động. Có nhiệm vụ dẫn đường cho đội tàu công kích chủ lực và chỉ thị mục tiêu tiêu diệt. Đồng thời cũng sử dụng vũ khí trang bị tiến công tiêu diệt địch khi có điều kiện thuận lợi theo yêu cầu. Để thực hiện nhiệm vụ được giao, đội tàu ngầm trinh sát hỏa lực sẽ cơ động trên vùng nước được giới hạn bởi tuyến trinh sát mục tiêu.


Tuyến trinh sát mục tiêu được hiểu là vùng nước mà ở đó, tàu ngầm Kilo có thể phát hiện và theo dõi cũng như nắm bắt được đầy đủ các thông tin cần thiết về đối phương bằng các phương tiện trên tàu. Phương pháp tìm kiếm mục tiêu, độ sâu lặn ngầm, điều kiện thủy văn môi trường, địa hình đáy biển và diện tích khu vực cơ động trinh sát được xác định từ tình huống đặt ra, điều kiện thủy âm và đặc biệt là trang thiết bị khí tài cần thiết để phát hiện mục tiêu (sonar, radar và các trang bị khí tài khác…). Khi phát hiện mục tiêu, đội tàu trinh sát thông báo những thông tin thu nhận được cho chỉ huy trưởng trên đài chỉ huy của phân đội tàu ngầm. Chỉ huy phân đội sẽ căn cứ tình hình thực tế, giao nhiệm vụ cho chỉ huy đội công kích chủ lực hoặt yêu cầu tiếp tục theo dõi mục tiêu.


Sơ đồ đội tàu ngầm trinh sát hỏa lực
Sơ đồ đội tàu ngầm trinh sát hỏa lực.



Đội tàu ngầm công kích chủ lực là lực lượng tàu ngầm được biên chế ngư lôi và tên lửa chống tàu, có nhiệm vụ tập kích đối phương bằng một đòn tấn công có tính quyết định, Đội tàu ngầm chủ lực được bố trí cơ động trên khoảng cách thuận tiện cho việc trinh sát dẫn đường cho bộ phận công kích chủ lực tiếp cận đối phương nhanh chóng và có thể quan sát, theo dõi địch bằng chính phương tiện khí tài của mình. Để thực hiện điều đó, ban tham mưu đài chỉ huy phân đội căn cứ vào thông tin thu được vạch ra lộ trình hải hành của đối phương và điểm chạm địch. 


Điểm chạm địch được xác định sao cho thời gian mà phân đội cơ động đến tuyến chiến đấu phải ngắn hơn thời gian cụm chiến hạm đối phương tiếp cận. Đội tàu ngầm công kích triển khai đội hình tác chiến trên tuyến chiến đấu đi ngang điểm chạm địch cắt ngang tuyến hải trình cơ động của đối phương. Khi phát hiện mục tiêu, ban tham mưu đơn vị xác định chủng loại mục tiêu, các thông tin chiến thuật liên quan như tọa độ, tính chất từng thành phần của mục tiêu. Từ đó lên sơ đồ cơ động chiến đấu.

Cơ động chiến đấu là hành động mà các tàu ngầm lựa chọn như đường cơ động, hướng cơ động theo các mục tiêu đã phân công, chiếm vị trí thuận lợi để triển khai đòn tấn công từ vũ khí trên tàu và giảm thiểu tối đa những nguy cơ của vũ khí, trang bị của đối phương, đồng thời cũng thay đổi vị trí để tiếp tục tấn công các mục tiêu tiếp theo. Sơ đồ cơ động chiến đấu được đề ra trên hải đồ đồng thời với các đường cơ động của các chiến hạm mục tiêu. Đường cơ động chiến đấu mỗi hạm tàu được vẽ trên bản đồ chỉ huy của đơn vị cũng như bản đồ chỉ huy tác chiến của mỗi hạm trưởng tàu ngầm ngay từ khi các phương tiện trinh sát như sonar, radar phát hiện ra mục tiêu cho đến khi kết thúc trận chiến đấu.





Khi tiến hành tấn công, các tàu ngầm lựa chọn vùng công kích, khái niệm vùng công kích được hiểu là vùng nước mà ở bất cứ vị trí nào trong vùng nước đó, tàu ngầm đều có thể tấn công mục tiêu bằng một loạt ngư lôi. Vị trí mà tàu ngầm có thể phóng loạt ngư lôi (từ 2 ngư lôi liên tiếp ) được gọi là vị trí tấn công trên đường cơ động của tàu ngầm. Do đặt điểm về tốc độ cũng như giới hạn của bình ắc quy điện, tàu ngầm diesel khi tiếp cận mục tiêu phải lựa chọn đường cơ động sao cho khoảng cách tấn công phù hợp nhất và dự kiến được số lượng đạn, chủng loại đầu đạn và khoảng cách phóng đạn sao cho trong mọi tình huống, ít nhất có một ngư lôi trúng mục tiêu. 


Nanh vuốt 'mãnh hổ'

Các tàu ngầm diesel-điện như Kilo 636 được trang bị tên lửa hành trình, có những đặc điểm riêng trong tác chiến hiện đại. Tàu ngầm có thể sử dụng tên lửa hành trình bằng các phương tiện dẫn đường, chỉ thị mục tiêu có trên thân tàu hoặc theo các thông số, được cung cấp bởi các nguồn thông tin bên ngoài, các nguồn thông tin để dẫn đường tên lửa hành trình có thể do máy bay trinh sát tầm cao, vệ tinh trinh sát hoặc máy bay trinh sát tác chiến điện tử hay các tổ trinh sát mục tiêu cung cấp, các thông tin dẫn đường mục tiêu có thể là không ảnh, dữ liệu tọa độ mục tiêu so với vật chuẩn, tọa độ mục tiêu dựa trên thông số ô vuông bản đồ khu vực hoặc thông số tọa độ kinh vĩ độ địa lý…thông thường. 

Các dữ liệu chỉ thị mục tiêu được cung cấp bởi cơ quan chỉ huy cấp cao, chỉ huy điều hành tác chiến phân đội tàu ngầm, các dữ liệu đó được nạp vào đầu tự dẫn của tên lửa trước khi phóng đạn. Do các mục tiêu trên biển sẽ dịch chuyển ra khỏi vị trí xác định ban đầu, các đầu tự dẫn của tên lửa được trang bị thiết bị radar chủ động hoặc điện tử - quang ảnh nhằm xác định chính xác mục tiêu cần tiêu diệt.




Tên lửa hành trình thường được sử dụng khi các mục tiêu cần tấn công nằm ngoài vùng quan sát, kiểm soát được của các khí tài trinh sát (radar, sonar) do đó, khi sử dụng tên lửa hành trình, các tàu ngầm lựa chọn vùng phóng tên lửa, vùng phóng tên lửa thông thường được lựa chọn là vùng không gian biển lớn, cách xa khu vực có thể có sự hiển diện các phương tiện tác chiến mặt nước khác của đối phương, nhưng không vượt quá tầm bay của tên lửa, đồng thời số lượng và chủng loại tên lửa được phóng từ tàu ngầm bảo đảm phủ kín vùng nước chiến hạm đối phương đang cơ động nhằm mục đích mục tiêu chắc chắn bị tiêu diệt. Số lượng tên lửa được phóng và khoảng cách tối ưu lựa chọn dựa vào tính năng kỹ chiến thuật tên lửa, số lượng và chủng loại mục tiêu, khả năng phòng không của các mục tiêu, yếu tố bí mật bất ngờ và phương án tránh đòn phản kích của các phương tiện chống ngầm của đối phương.

Tàu ngầm triển khai trận địa thủy lôi thông minh
Tàu ngầm triển khai trận địa thủy lôi thông minh.


Ngoài hai loại vũ chính chống tàu nổi là ngư lôi và tên lửa hành trình, một vũ khí thứ 3 có hiệu quả tác chiến rất cao và thuận lợi cho phòng ngự biển đảo là thủy lôi. Nhờ tính bí mật cao, tàu ngầm có thể triển khai các tuyến thủy lôi ngăn chặn, phong tỏa hoặc các trận địa thủy lôi bí mật, bất ngờ trên các cửa cảng, căn cứ quân sự đối phương, trên các tuyến đường hành quân hoặc bố trí các trận địa thủy lôi phòng thủ khu vực biển, đảo, các vùng có luồng lạch hẹp và các vịnh…

Thủy lôi thông thường được triển khai thông qua ống phóng ngư lôi và nhờ các trang thiết bị định vị, hoa tiêu chính xác của tàu ngầm, cũng như nhờ những tiến bộ vượt bậc của vũ khí thủy lôi có sử dụng các hệ thống điện tử, sensor và máy tính trên ngư lôi, loại vũ khí này trở lên thông minh hơn, có khả năng tự hành, tự khởi động và tấn công mục tiêu trên mọi độ sâu cũng như trên khoảng cách rộng lớn. Thủy lôi ngày nay sau khi được phóng ra khỏi tàu ngầm, có thể tự hành đến khu vực trận địa, triển khai các sensor thủy âm, điện từ trường, sonar thụ động ở chế độ chờ dài ngày, và khi mục tiêu đến, có thể chủ động tiếp cận và tiêu diệt mục tiêu.

Trong mọi thời gian, kể cả thời bình và thời chiến, lực lượng tàu ngầm luôn luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu, do tính hiệu quả cao trong tác chiến tàu ngầm. Các lực lượng đối phương luôn luôn tìm mọi cách xác định tàu ngầm của đối phương đang ở vị trí nào trên biển hoặc đang neo đậu ở căn cứ nào. Mọi hoạt động của tàu ngầm từ khi được biên chế cho đến khi hết thời hạn phục vụ đều được giữ bí mật tuyệt đối.

Ngược lại, các tàu ngầm trong điều kiện thời bình cũng phải thực hiện nhiệm vụ tuần biển bí mật, bảo vệ bí mật các khu vực trọng tâm như căn cứ, vùng nước, khu kinh tế trên biển, đảo, quần đảo đồng thời bí mật theo dõi mọi hành động trên mặt nước và dưới mặt nước của đối phương. Thực tế cho thấy, tàu ngầm là chiến hạm không có hòa bình. Nhiệm vụ chiến đấu luôn được sẵn sàng thực hiện với đầy đủ vũ khí trang bị theo biên chế, các lực lượng chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật và hậu cần lực lượng tàu ngầm cũng luôn nằm trong tình trạng đó. Khi chuyển sang thời chiến, cũng là lúc các thủy quái – tàu ngầm minh chứng cho sự hiển diện của mình bằng những đòn tấn công quyết liệt ngay từ giây phút đầu tiên.


Trịnh Thái Bằng / Tiền Phong

(Dựa theo Chiến thuật tàu ngầm Hải quân Xô Viết)

Trang chu     

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Philippines chặn tàu Trung Quốc

Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Philippines hôm nay (21/6) đã chặn một tàu Trung Quốc ở ngoài khơi tỉnh Cebu. Hiện vẫn chưa rõ vì sao tàu Trung Quốc lại đi vào lãnh hải của Philippines.
Theo Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Philippines cho biết, các nhân viên trên tàu BRP Nueva Vizcaya của họ đã phát hiện ra tàu M/V Ming Yu Wan của Trung Quốc ở khu vực lãnh hải gần đảo Malapascua.
Phát ngôn viên Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Philippines – ông Armand Balilo cho hay, họ sẽ điều tra xem tại sao tàu Trung Quốc lại xâm nhập vào khu vực đó.
Trung Quốc và Philippines hiện đang có cuộc đối đầu căng thẳng vì tranh chấp lãnh thổ ở một số khu vực thuộc Biển Đông. Chính phủ Philippines đã đệ đơn lên tòa án quốc tế, kiện Trung Quốc về việc nước này thường xuyên đưa tàu thuyền “xâm nhập vào những quần đảo” mà Manila tuyên bố là thuộc chủ quyền của họ.
Philippines cũng vừa rơi vào một cuộc khủng hoảng ngoại giao trầm trọng với Vùng lãnh thổ Đài Loan sau khi Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Philippines bắn chết một ngư dân Đài Loan 65 tuổi ở ngoài khơi Batanes.

Thủy quân lục chiến Philippines
Trong bài phát biểu nhân Ngày Độc lập hồi tuần trước, Tổng thống Benigno Aquino III đã thề sẽ bảo vệ lãnh thổ Philippines trong khi yêu cầu các nước khác tôn trọng chủ quyền và các quyền của nước này.
“Hiếu chiến không chảy trong huyết quản của chúng tôi nhưng chúng tôi sẽ không lùi bước trước bất kỳ thách thức nào”, ông Aquino đã tuyên bố đầy cứng rắn như vậy. Ông này nhấn mạnh: “Điều duy nhất chúng tôi yêu cầu là các nước tôn trọng lãnh thổ, các quyền và chủ quyền của chúng tôi như cách mà chúng tôi tôn trọng lãnh thổ, các quyền và chủ quyền của các dân tộc khác”.
Trong một diễn biến có liên quan, một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm nay đã lên tiếng chỉ trích gay gắt rằng, việc Philippines chiếm bãi cạn Second Thomas là không thể chấp nhận được.
Nữ phát ngôn viên Hua Chunying tuyên bố tại một cuộc họp báo rằng, quyết tâm và ý chí của Trung Quốc trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia là không thể lay chuyển.
Bãi cạn Second Thomas là một nhóm đảo và rạn san hô nhỏ thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam nhưng hiện do Philippines chiếm đóng. Gần đây, Trung Quốc đang tìm cách giành quyền kiểm soát bãi cạn Second Thomas từ tay Philippines. Chính vì vậy, nơi đây đã chứng kiến một cuộc đối đầu mới giữa Trung Quốc và Philippines.
Manila vừa mới đây đã triển khai một đợt lính thủy đánh bộ mới và cung cấp nguồn hậu cần cho bãi cạn Second Thomas.
(BVMD)

Cặp kỳ phùng địch thủ không chiến trên bầu trời Việt Nam

Trong chiến tranh Việt Nam, MiG-21 của Việt Nam và tiêm kích F-4 chủ lực của Mỹ đã tạo nên một cặp “kỳ phùng địch thủ” trên bầu trời.


Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ được coi là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa. Do vậy, ở chiến trường, Việt Nam được ưu tiên nhận những loại vũ khí hiện đại nhất. Không chỉ là nơi thể hiện trình độ khoa học kỹ thuật của Liên Xô và Mỹ mà chiến trường Việt Nam còn là nơi kiểm nghiệm lại những vũ khí hiện đại được thiết kế.
MiG-21 tiêm kích số một của phe xã hội chủ nghĩa
Mikoyan-Gurevich  MiG-21 ( tên ký hiệu của NATO : Fishbed) là một  máy bay tiêm kích  phản lực, được thiết kế và chế tạo bởi cục thiết kế  Mikoyan-Gurevich  tại  Liên bang Xô viết. Hơn 50 quốc gia trên 4 lục địa đã sử dụng loại máy bay này, hiện nay, MiG-21 vẫn đang hoạt động trong không quân một số quốc gia sau 50 năm khi nó cất cánh lần đầu tiên. MiG-21 đã đạt được một số kỷ lục hàng không như:

MiG-21 của Không quân Việt Nam đã giành chiến thắng trước F-4 Phantom II của Mỹ
1. Máy bay phản lực được sản xuất nhiều nhất trong lịch sử hàng không,
2. Máy bay chiến đấu được sản xuất nhiều nhất từ sau Chiến tranh Thế giới II.
3. Máy bay chiến đấu có thời gian sử dụng lâu nhất.
Tổng cộng đã có 10.158 (một số nguồn nói 10.645) chiếc MiG-21 được chế tạo tại Liên Xô . MiG-21 có khả năng đạt đến vận tốc Mach 2, vận tốc này vượt qua tốc độ tối đa của nhiều kiểu máy bay chiến đấu hiện đại sau này.
MiG-21 được xuất khẩu rộng rãi và tiếp tục được sử dụng ở nhiều nước, mặc dù đã có thể được xem như là lỗi thời. Chiếc máy bay này có hệ thống điều khiển, động cơ, vũ khí và điện tử đơn giản, điển hình cho thiết kế quân sự của thời kỳ Liên Xô. Tuy có công nghệ kém hơn so với những máy bay chiến đấu mà nó đối mặt nhưng giá thành sản xuất rẻ và chi phí bảo dưỡng thấp đã khiến MiG-21 được ưa chuộng trong quân đội của nhiều quốc gia khối Đông Âu  và trên toàn thế giới.
Tải trọng cất cánh thông thường của các biến thể MiG-21 sử dụng trong chiến tranh Việt Nam là dưới 8 tấn và có tầm bay xa ngắn khoảng 1.500km. Thành phần vũ khí của MiG-21 yếu hơn đáng kể so với Phantom của Mỹ: ban đầu, MiG-21 chỉ mang được 2 tên lửa không đối không tầm trung R-3S (Vympel K-13) tự dẫn bằng tia hồng ngoại, sau này có bổ sung thêm nhưng MiG-21 cũng chỉ mang được 4 tên lửa loại này. Ngoài ra, MiG-21 chỉ được trang bị 1 pháo 23 hoặc 30mm (trong hàng loạt biến thế không được trang bị pháo này). Tuy nhiên, những đặc điểm bay còn lại của MiG-21 không hề thua kém đối thủ Mỹ: vận tốc bay tối đa – 2.175-2.300km/h, trần bay thực tế – 18.000 – 19.000m.
“Át chủ bài” F-4 của Không quân Mỹ
Phantom II đã được dùng trong quân đội Hoa Kỳ từ năm 1960 đến năm 1996 và là máy bay tiêm kích ưu thế trên không, cũng như là máy bay chiến đấu ném bom chính của Không quân, Hải quân và Thủy quân lục chiến trong Chiến tranh Việt Nam. F-4 cũng được trang bị cho quân đội của nhiều nước khác, và cho đến năm 2001 vẫn còn hơn 1.000 máy bay F-4 đang được sử dụng ở 11 nước trên toàn thế giới.

Máy bay MiG-21 của Không quân Việt Nam
F-4 Phantom II là một loại máy bay tiêm kích-ném bom tầm xa siêu âm hai chỗ ngồi hoạt động trong mọi thời tiết, được hãng McDonnell Douglas thiết kế và chế tạo vào năm 1958 cho Hải quân Hoa Kỳ.
Vận tốc bay tối đa của F-4 là 2.260km/h, trần bay thực tế 16.600-17.900m, tầm bay xa thực tế không có thùng dầu phụ là 2.380km
F-4 được trang bị radar mạnh, cũng như vũ khí “có một không hai” như 4 quả tên lửa đối không tầm ngắn AIM-9 Sidewinder (sau này có giai đoạn được thay bằng AIM-4D) và 4 tên lửa AIM-7 Sparrow tầm trung gắn trên thân.
Các phiên bản nâng cấp của F-4 có khả năng mang các loại tên lửa đối không: AIM-120 AMRAAM, AAM-3, IRIS-T, Skyflash. Có đến 8.480kg vũ khí gắn trên 9 đế trên cánh và thân, bao gồm bom thông thường, bom chùm, bom dẫn đường bằng laser, rocket, tên lửa đối đất, tên lửa đối hạm, vũ khí hạt nhân.
Kỳ phùng địch thủ trên bầu trời Việt Nam
MiG-21 giành được những danh tiếng đầu tiên của mình trong Chiến tranh Việt Nam. Dù MiG-21 thiếu radar tầm xa, tên lửa và mang bom hạng nặng so với những máy bay chiến đấu đa nhiệm vụ cùng thời của Mỹ, nhưng MiG-21 tỏ ra là một đối thủ đầy thách thức trong tay những phi công lão luyện, đặc biệt khi được sử dụng trong tấn công tốc độ cao và công kích nhanh dưới sự điều khiển của GCI . MiG-21 được sử dụng để chặn đứng những nhóm máy bay xung kích F-105 được F-4 bay hộ tống rất hiệu quả, đặc biệt trong việc bắn hạ những máy bay Mỹ hay bắt chúng phải giảm trọng tải bom mang trên mình.

Máy bay F-4 Phantom II của Mỹ với các loại vũ khí
Sau khi ngừng các phi vụ ném bom trong Chiến dịch Sấm Rền vào năm 1968 , tỷ lệ giành chiến thắng trong không chiến của các máy bay Mỹ rất thấp, khi phải chiến đấu chống lại những máy bay nhỏ, nhanh nhẹn như những chiếc MiG trong thời gian đầu của Chiến tranh Việt Nam. Dần dần, Không quân Hoa Kỳ đã phải thành lập chương trình huấn luyện không chiến khác biệt như trong trường huấn luyện TOPGUN, mục đích là sử dụng những máy bay nhỏ, nhanh nhẹn đóng giả làm MiG-17 và MiG-21 làm mục tiêu huấn luyện cho các phi công. Người Mỹ đã sử dụng hai máy bay có tốc độ cận âm là A-4 Skyhawk và F-5 Tiger II để thực hiện công việc này.
F-4 là máy bay chiến đấu cuối cùng của Mỹ trong thế kỷ 20 tạo nên “Át” (phi công bắn rơi được từ 5 máy bay địch trở lên): Trong chiến tranh Việt Nam, Không quân có 1 phi công và 1 sĩ quan hệ thống vũ khí và Hải quân có 1 phi công và 1 sĩ quan theo dõi radar (RIO: Radar Intercept Officer) đạt danh hiệu “Át”.
Những chiếc F-4C của Không quân Hoa Kỳ ghi được chiến công không chiến đầu tiên trước một chiếc MiG-17 của Bắc Việt Nam vào ngày 10 tháng 7 năm 1965, sử dụng tên lửa không đối không AIM-9 Sidewinder. Ngày 24 tháng 7 năm 1965, một chiếc Phantom thuộc Phi đội Tiêm kích Chiến thuật 47 tạm thời bố trí tại Việt Nam đã trở thành chiếc máy bay Hoa Kỳ đầu tiên bị tên lửa đất-đối-không (SAM) bắn hạ, và vào ngày 5 tháng 10 năm 1966, một chiếc F-4C thuộc Không đoàn Tiêm kích Chiến thuật 8 trở thành chiếc máy bay phản lực Hoa Kỳ đầu tiên bị bắn hạ bởi tên lửa không-đối-không do một chiếc MiG-21 bắn ra.
MiG-21 của Không quân Việt Nam đã giành chiến thắng trước F-4 Phantom II của Mỹ
MiG-21 của Không quân Việt Nam đã giành chiến thắng trước F-4 Phantom II của Mỹ
Tuy nhiên, kết quả cuối cùng của cuộc chiến giữa của máy bay MiG-21 và Phatom trên bầu trời Việt Nam đã kết thúc với thất bại hoàn toàn thuộc về phía máy bay của Mỹ. Trong suốt thời gian chiến tranh từ năm 1966 đến 1972, 54 chiếc MiG-21 đã bị tiêu diệt bởi chiến đấu cơ F-4, cũng trong giai đoạn này, với 20 chiếc MiG-21 đầu tiên, Không quân Việt Nam đã tiêu diệt được 103 chiếc Phantom. Ngoài ra, khi mất một máy bay Phatom cũng đồng nghĩa với việc 2 phi công bị chết hoặc bị bắt làm tù binh.
Kinh nghiệm trong cuộc chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng rất nhiều đến ngành chế tạo máy bay quân sự ở Mỹ cũng như ở Liên Xô. Mỹ đã đáp trả thất bại của Phantom trong những trận chiến trên không bằng việc chế tạo máy bay có tính cơ động cao thế hệ 4 như F-15, F-16 được cho là hơn hẳn MiG-21 trong những trận chiến cơ động gần.
Tuy nhiên, sau khi chiến tranh tại Việt Nam kết thúc, sự cạnh tranh giữa MiG-21 và Phatom trên bầu trời vẫn chưa chấm dứt. MiG-21 và F-4 lại đối đầu trên kênh đào Suez, trên bầu trời Sinai, ở châu thổ sông Nile, và Syria năm 1973, ở Lebanon vào cuối thập niên 70 – đầu thập niên 80, vào những năm 80-88 của cuộc chiến tranh Iran – Iraq.
(BXH)