CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996                                  TIN TỔNGHỢP                     GIÃ SỬ                         QUÂNSỰ                    CHUYỆN LẠ              WEB                                    

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

Nga và tranh chấp biển Đông – Bài 1: Nga trở lại biển Đông

Tin Tức Quốc Tế
Tin Biển Đông VN
Ngôi Sao

Sau thời gian “ngủ đông”, những tuyên bố và động thái gần đây của Nga đã hé lộ ý đồ chiến lược của nước này đối với biển Đông và khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
LTS: Biển Đông đang trở thành sân chơi thu nhỏ giữa hợp tác và cạnh tranh của các cường quốc thế giới và Nga cũng không phải là ngoại lệ. Chính những đặc thù về địa kinh tế và địa chính trị đã biến khu vực này thành “con bài chiến lược” từ góc nhìn của Nga. Dưới đây là loạt bài phân tích về chiến lược này của Nga trong bức tranh tranh chấp biển Đông phức tạp này.
Quốc gia ngoài khu vực Đông Nam Á đánh dấu sự hiện diện đầu tiên tại biển Đông chính là Nga. Vào năm 1905, trong cuộc hải chiến với phía Nhật, hàng trăm tàu chiến của Nga hoàng đã tập trung ở cảng Cam Ranh để chuẩn bị cho việc tham chiến.
Ngược dòng quá khứ
Sau nhiều giai đoạn thăng trầm của hai cuộc thế chiến, đến thập niên 1980, Liên Xô tiếp tục đánh dấu sự hiện diện của mình ở đây bằng cách tích cực hợp tác với Việt Nam trong việc khai thác mỏ dầu Bạch Hổ cùng một số mỏ khác. Về mặt hiện diện quân sự, Liên Xô chính thức đánh dấu sự có mặt của mình ở đây từ năm 1979 theo hiệp định được ký kết với Việt Nam.
Theo đó thì cảng Cam Ranh được dùng làm căn cứ hậu cần. Tên gọi đầy đủ là Điểm cung cấp vật liệu – kỹ thuật số 922 (PMTO) của Hạm đội Thái Bình Dương, với diện tích khoảng 100 km2, trong thời hạn 25 năm, phục vụ một đơn vị thường trực chiến đấu mang tên Liên đội tàu chiến đấu số 17 của Hạm đội Thái Bình Dương.
Đến năm 1991, Liên Xô tan rã khiến cho Nga buộc phải bước vào thời kỳ “ngủ đông”, thực hiện sự rút lui chiến lược khỏi châu Á-Thái Bình Dương. Với tình thế suy yếu lúc đó, chính phủ Nga buộc phải thực hiện chính sách nghiêng hẳn về phương Tây (hay còn được gọi là “chính sách Đại Tây Dương”) với mục đích chủ yếu là có được viện trợ kinh tế.
Tàu chiến Liên Xô tại cảng Cam Ranh năm 1982. Ảnh tư liệu
Tàu chiến Liên Xô tại cảng Cam Ranh năm 1982. Ảnh tư liệu
Tuy nhiên, việc vẫn mang tư tưởng nước lớn đã khiến cho các nhà hoạch định chính sách Nga muốn tiếp tục có sự can dự ở một khu vực trọng yếu ở Thái Bình Dương. Vì thế, từ năm 1993, Nga thực hiện chính sách “đại bàng hai đầu”. Một “đầu” thì tiếp tục hướng về Đại Tây Dương, “đầu” còn lại hướng về châu Á.
Như một “chú gấu ngủ đông”, Nga khó lòng có đủ “sức khỏe” để thực hiện tất cả kế hoạch. Thế nên trong vấn đề biển Đông, Nga đã giữ “khoảng cách” nhất định để không phá vỡ thế cân bằng lợi ích của các nước lớn. Bằng chứng là đến năm 2001, Việt Nam và Nga đã nhất trí chấm dứt sớm thỏa thuận 1979 về vấn đề sử dụng cảng Cam Ranh. Đến năm 2002 thì việc này chính thức diễn ra với sự kiện Đại tá chỉ huy trưởng Eryomin là người Nga cuối cùng rời Cam Ranh lên tàu Sakhalin 9, chấm dứt 23 năm tồn tại của căn cứ Cam Ranh của Hạm đội Thái Bình Dương.
Từ đó đã chính thức chấm dứt sự hiện diện của các lực lượng quân sự Nga tại cảng Cam Ranh nói riêng và toàn bộ biển Đông nói chung. Đồng thời, Nga cũng giữ thái độ trung lập trong tranh chấp giữa các nước liên quan trong suốt những năm sau đó.
“Gấu” Nga đã hết ngủ đông
Thế nhưng mọi chuyện bắt đầu có chiều hướng thay đổi kể từ khi ông Putin bắt đầu tiến hành những kế hoạch táo bạo nhằm phục hưng vị thế. Bên cạnh việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia thì nước Nga cũng bắt đầu tiến hành vươn dài “chiếc vòi” chiến lược của lực lượng hải quân của mình ra bên ngoài.
Theo Putin tuyên bố thì “nếu từ bỏ chiến lược xây dựng hải quân, Nga sẽ đánh mất quyền phát ngôn trên vũ đài quốc tế”. Vì thế, việc quay trở lại biển Đông không chỉ tạo thuận lợi cho quyết tâm chấn hưng cường quốc biển của Putin mà còn là một trong những nước cờ then chốt nhằm khôi phục sức mạnh chiến lược trước đây của hải quân viễn dương.
Phát biểu trên của Putin càng đáng chú ý hơn khi nhìn lại những động thái của Moscow liên quan đến biển Đông dạo gần đây. Động thái chính thức đầu tiên nổ ra vào ngày 23-3-2010, khi hãng thông tấn Nga đưa tin Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly thông báo rằng Hải quân Nga sẽ giúp Hải quân Việt Nam trong việc xây dựng căn cứ đồn trú tàu ngầm, có thể là tại Cam Ranh.
Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga Sergei Shoigu thăm chính thức Việt Nam hồi tháng 3 năm nay theo lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh. Ảnh tư liệu
Bộ trưởng Quốc phòng Liên bang Nga Sergei Shoigu thăm chính thức Việt Nam hồi tháng 3 năm nay theo lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh. Ảnh tư liệu
Đến ngày 6-10-2010, chẳng biết vô tình hay cố ý, Bộ Tham mưu Hải quân Nga để lộ thông tin về việc Hải quân Nga đã hoàn thành những kế hoạch cơ bản cho việc khôi phục căn cứ hải quân ở vịnh Cam Ranh. Cơ quan này còn “thòng” thêm một thông tin bán tín bán nghi rằng “trong vòng ba năm tới họ có thể quay trở lại sử dụng căn cứ hải quân tại vịnh Cam Ranh của Việt Nam”. Thậm chí tờ báo Độc Lập của Nga còn dẫn một nguồn tin thân cận cho biết “lần này Nga sẽ quay trở lại vịnh Cam Ranh theo hình thức cho thuê. Thời gian thuê ít nhất là 25 năm, sau khi kết thúc hợp đồng có thể thương lượng kéo dài”.
Điều chỉnh chiến lược
Vào ngày 5-4-2012, Tập đoàn khí đốt Gazprom của Nga còn tuyên bố tham gia dự án khai thác khí đốt tại hai lô 5.2 và 5.3 ở biển Đông mà công ty Anh BP đã phải từ bỏ. Nhưng sự kiện cao trào nhất có lẽ chính là lời phát biểu chính thức của ông Nicholas Kudashefu – Đại sứ Nga tại Philippines khi trả lời phỏng vấn tờ Công Báo Manila vào ngày 21-5-2012. Ông này đã thể hiện quan điểm rằng “Nga phản đối bất kỳ nước nào không có tranh chấp can thiệp vào vấn đề biển Đông… Nga cũng sẽ không nằm ngoài cuộc vì cũng như các nước khác, đều quan tâm đến quyền tự do hàng hải tại khu vực”.
Nếu xâu chuỗi chúng lại và đặt trong toàn văn tuyên bố của ông Putin thì rõ ràng là có một sự trỗi dậy ngấm ngầm. Trong những năm trở lại đây, Nga còn tích cực chủ động phát triển quan hệ với các nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc bằng cách cung cấp những gói trang bị quân sự hiện đại với giá trị không nhỏ.
GS Vitaly Naumkin, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Chính trị Moscow, nhận định trong một bài viết rằng: “Hiện nay, sự mất cân bằng đối ngoại giữa phương Tây và phương Đông đã bắt đầu được Nga điều chỉnh. Một nước Nga mạnh mẽ và tự tin hơn đang tác động đến những thay đổi tích cực trên thế giới, đồng thời Nga đã xuất hiện với tư cách như một tác nhân quan trọng tại các điểm nóng khu vực. Biển Đông cũng sẽ không ngoại lệ”.
Động thái cho can dự của Nga vào biển Đông đã dần dần hiện rõ. Tuy nhiên, tại sao Nga trở lại biển Đông và dựa trên những lợi ích gì? Trả lời được câu hỏi này chính là cách thức để mở ra cách tiếp cận hiểu được chính sách của Nga tại khu vực đang trở thành điểm nóng của thế giới.
*Xem tiếp bài 2

Nga và tranh chấp biển Đông – Bài 2: Nga có lợi ích tại biển Đông

Tin Tức Quốc Tế
Tin Biển Đông VN
Ngôi Sao

Sự quay trở lại trong mối quan tâm đến châu Á-Thái Bình Dương của Nga còn được thể hiện qua việc nước này đã thành lập Bộ Phát triển Viễn Đông
Nhiều học giả đã ví von biển Đông như là Địa Trung Hải của châu Á. Điều này cũng dễ dàng giải thích cho việc biển Đông liên tục nổi sóng trong nhiều thập niên qua. Vào thời điểm hiện tại, Trung Quốc đã mạnh miệng tuyên bố biển Đông là lợi ích cốt lõi của họ. Còn Mỹ cũng đã phản hồi với tuyên bố biển Đông là lợi ích quốc gia. Vậy còn đối với Nga, biển Đông đóng vai trò là lợi ích gì đối với nước này?
Từ kinh tế…
Thứ nhất, xét về mặt lợi ích kinh tế, GS Vitaly Naumkin – Chủ tịch Trung tâm Chiến lược và Chính trị Moscow (Nga) cho rằng với nhu cầu phát triển như hiện nay, rõ ràng Nga rất quan tâm việc mở lối thoát ra thị trường mới tại châu Á, mở rộng cơ sở cung cấp nguyên liệu thô. Bên cạnh đó, Nga còn muốn đa dạng hoạt động của các tập đoàn dầu khí trong nước, giảm chi phí sản xuất và giành thêm những lợi thế cạnh tranh cho hàng xuất khẩu.
Với đặc thù về các yếu tố địa kinh tế thì biển Đông đã biến thành một cửa ngõ trọng yếu mà Nga muốn tận dụng để hiện thực hóa những nhu cầu trên. Cạnh đó, cũng theo GS Vitaly Naumkin, việc hợp tác với các nền kinh tế đang phát triển tại Đông Nam Á như Việt Nam cũng tạo điều kiện rất tốt cho Nga đa dạng phương thức hơn để Nga tham gia vào mạng lưới quan hệ kinh tế và quan hệ quốc tế toàn cầu.
Tàu săn tàu ngầm cỡ lớn Shaposhnikov của Hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Nga.
Tàu săn tàu ngầm cỡ lớn Shaposhnikov của Hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Nga.
Không chỉ thế, Nga còn có những hợp đồng khai thác dầu khí đang tiến hành tại khu vực. Xét ra thì những con số từ đây mang lại chỉ là một phần trong tổng lợi nhuận dầu khí khổng lồ trên toàn thế giới mang lại cho Nga nhưng nếu mất đi thì tổn thất lại không hề nhỏ. Chính bởi tầm quan trọng của những lợi ích kinh tế này mà ông Sergei Pravosudov – Giám đốc Viện Năng lượng Quốc gia Nga đã tuyên bố rằng: “Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục gây hấn và xâm phạm tới biển Đông thì chắc chắn họ sẽ gặp phải sự phản ứng của Mỹ và Nga là hai quốc gia đang có nhiều tập đoàn dầu khí làm việc tại thềm lục địa của Việt Nam”.
Đến ảnh hưởng chính trị
Thứ hai, xét về mặt chính trị ngoại giao, bên cạnh mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc, hiện nước Nga còn có quan hệ hữu nghị truyền thống và lợi ích hợp tác với Việt Nam. Từ những năm 70 của thế kỷ trước, Liên Xô (sau này là Nga) đã đầu tư, thăm dò khai thác dầu khí ở biển Đông. Vì thế, Nga sẽ không muốn tình hình tranh chấp ở đây ảnh hưởng xấu đến quan hệ với các nước. Theo chia sẻ của GS-TS Vladimir Kolotov (Trưởng khoa Sử Viễn Đông, ĐH Quốc gia St. Petersburg, Nga) thì “đối với Nga, cả Việt Nam và Trung Quốc đều là đối tác chiến lược”.
Hơn nữa, với tư cách là một nước lớn, đang trên đường phục hồi vị thế vốn có của mình, nước Nga khó có thể bỏ qua những lợi ích chiến lược mang tính toàn cầu, cả hiện tại cũng như lâu dài. Biển Đông cũng nằm trong lợi ích chiến lược của họ. Không phải ngẫu nhiên mà Nga đã điều trung đoàn tên lửa S-400 đến đóng ở Viễn Đông, bán vũ khí tàu ngầm hiện đại, máy bay chiến đấu Su 30, tên lửa hành trình Bastion cho Indonesia, Malaysia và Việt Nam. Nga cũng thường xuyên đưa tàu chiến lui tới nhiều nước Đông Nam Á có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Sự quay trở lại trong mối quan tâm đến châu Á-Thái Bình Dương của Putin còn được đánh dấu qua việc Nga đã thành lập Bộ Phát triển Viễn Đông.
Trong bối cảnh Moscow đang tích cực thực hiện chính sách ngoại giao đa phương, khu vực biển Đông có ý nghĩa ngày càng quan trọng. Theo nhận định của chuyên gia Aleksey Fenenko (đăng trên báo Độc Lập của Nga) thì: “Nga quan tâm tới việc hội nhập vào khu vực này trên nhiều không gian và trong mọi cơ chế, tổ chức khác nhau như ASEAN, APEC, EAS nhằm sử dụng tiềm năng khu vực để nâng cao phát triển vùng Siberia và Viễn Đông”. Vì thế, có thể thấy việc can thiệp nhằm giữ cho tình hình biển Đông ổn định sẽ giúp cho Nga có đủ uy tín và vị thế hiện thực hóa được những điều này.
Và tầm nhìn chiến lược
Thứ ba, xét về mặt phát triển chiến lược quân sự, điều kiện địa lý của Nga rất không thuận lợi, làm hạn chế nghiêm trọng sự phát triển sức mạnh trên biển, sức mạnh hải quân của Nga.
Nhìn vào bản đồ địa lý có thể dễ dàng nhận thấy phần lớn đường bờ biển Nga thuộc khu vực lạnh giá, trong năm có thời gian đóng băng rất dài, tỉ lệ sử dụng bờ biển tương đối thấp. Khu vực biển Baltic và biển Đen đều có bờ biển ấm áp, có tương đối nhiều cảng không đóng băng nhưng độ dài của tuyến đường bờ biển không lớn, khó trở thành căn cứ chủ yếu để phát triển quyền kiểm soát biển.
Quân cảng Cam Ranh với địa thế vô cùng độc đáo.
Quân cảng Cam Ranh với địa thế vô cùng độc đáo.
Nhưng khu vực biển Đông thì khác, đây là vùng biển nhiệt đới, không bao giờ đóng băng. Đặc biệt, như một nhà quan sát ví von, quân cảng Cam Ranh được đánh giá như là “yết hầu” trong bản đồ chiến lược quân sự khu vực. Vì thế, Nga rất cần thông qua những đồng minh lâu năm của mình (như Việt Nam) để có thể mở thêm một hướng mới cho việc phát triển lực lượng hải quân.
Cuối cùng, nếu nhìn về sự cạnh tranh vị thế chiến lược thì Nga hiện có hai cường quốc cạnh tranh: Trung Quốc và Mỹ. Moscow hiện đang nhì n nhận sự trỗ i dậ y củ a Bắ c Kinh ở châu Á -Thá i Bì nh Dương vớ i một thái độ nghi ngạ i, với sự lo sợ về vị thế của mình. Vì vậy, dĩ nhiên “chàng gấu” Nga đang rất muốn đẩy lùi vị thế của người khổng lồ tại tất cả khu vực mà Nga có lợi ích.
Theo nhận định của TS Subhash Kapila (Tổ chức Phân tích Nam Á tại Ấn Độ) thì “tranh chấp biển Đông có thể làm thay đổi cục diện khu vực, thúc đẩy sự cân bằng cơ cấu quyền lực ở châu Á-Thái Bình Dương”. Từ đó, TS Subhash Kapila cho rằng việc can thiệp tích cực vào vấn đề tranh chấp tại biển Đông sẽ giúp cho tham vọng thay đổi trật tự quyền lực khu vực của Nga mau chóng được hiện thực hóa.Dù đang gặp nhiều vấn đề xấu về kinh tế, xã hội trong nước nhưng để bảo vệ những lợi ích và chứng minh cho cái gọi là vị thế cường quốc của mình, Nga bắt buộc phải hiện diện tại biển Đông – điểm nóng hiện tại của thế giới. Tuy nhiên, kịch bản nào cho sự quay trở lại của Nga tại biển Đông nói riêng và châu Á-Thái Bình Dương nói chung còn phải phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau.
*Xem tiếp bài 3

(PLTP)

Nga và tranh chấp biển Đông – Bài cuối: Nga sẽ chọn thái độ nào?

Tin Tức Quốc Tế
Tin Biển Đông VN
Ngôi Sao
Mục đích lớn nhất của Nga hiện nay là tạo nhiều mối quan hệ để hòa nhập sâu rộng vào guồng quay của nền kinh tế năng động khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Theo nhiều chuyên gia, hiện tại có thể dự đoán bốn kịch bản chính cho tương lai biển Đông. Một là tình hình tranh chấp sẽ diễn biến theo chiều hướng tốt hơn. Hai là tình hình vẫn sẽ giữ như hiện nay với sự hợp tác và đấu tranh đan xen lẫn nhau. Ba là tình hình trở nên xấu hơn, xung đột, tranh chấp nhiều hơn hợp tác nhưng vẫn chưa có xung đột quy mô lớn. Bốn là các bên liên quan đều muốn giải quyết vấn đề bằng các biện pháp quân sự và dẫn đến xảy ra xung đột lớn.
Những bất ổn trong tương lai biển Đông chắc chắn sẽ gây ra nhiều thách thức cho an ninh của Nga trong những năm tới. Và điều này cũng sẽ gây ra nhiều tác động chiến lược cho chính sách Viễn Đông của Nga. Vì thế Nga phải tiếp cận vấn đề này một cách khôn khéo, đồng thời phải tung ra những biện pháp can thiệp mang tính giải quyết thật sự đối với vấn đề này. Vậy đâu là sự lựa chọn khả dĩ nhất cho Nga?
Quan hệ tay ba Nga – Trung – Mỹ
Theo ý kiến của chuyên gia Evgeny Kanaev (Trung tâm Nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương) thì “Nga không nhất thiết phải lựa chọn chính sách xoay quanh bất cứ kịch bản nào. Bởi vì kịch bản cho vấn đề can thiệp của Nga mang một bản chất khác biệt, không phụ thuộc vào diễn biến của tranh chấp”. Thêm nữa, Moscow có đủ khả năng cũng như vị thế để xây dựng và tiến hành một chiến lược can thiệp theo kịch bản riêng của mình.
Chiếc tàu ngầm Kilo này đã hoàn tất các bài thử nghiệm lặn và các hành trình trên biển trước khi giao cho khách hàng.
Chiếc tàu ngầm Kilo này đã hoàn tất các bài thử nghiệm lặn và các hành trình trên biển trước khi giao cho khách hàng.
Cũng theo vị chuyên gia này thì trong xu thế phát triển chung như hiện nay, kịch bản cho vấn đề “Nga và biển Đông” chỉ nên được lựa chọn xoay quanh những từ khóa như “can thiệp tích cực”, “đẩy mạnh hợp tác”, “biện pháp hòa bình”… Và đó chỉ có thể là một kịch bản mà trong đó Nga sẽ cố gắng sử dụng tất cả con bài chiến lược mà quốc gia này đang sở hữu. Kịch bản tốt nhất là Nga nên đi theo xu hướng can thiệp mà không can dự với ba “con bài” chiến lược cụ thể như sau:
Một là Nga chủ động kết hợp khéo léo quan hệ với Mỹ và Trung Quốc trong vấn đề biển Đông. Theo nhận xét của cựu đại sứ Ấn Độ M K Bhadrakumar thì “sự hợp tác giữa ba ông lớn này để giải quyết bất cứ một tranh chấp là cả một sự mong đợi to lớn của thế giới”. Vấn đề biển Đông thật sự cũng không thể được giải quyết một cách độc lập chỉ với tam giác Nga – Trung – Mỹ.
Thực tế thì việc ba ông lớn này phối hợp với nhau sẽ làm cho không gian hợp tác tăng lên chứ không hề giảm đi. Mà khi hợp tác càng nhiều thì tổn hại càng ít, lợi ích tăng lên. Biển Đông cũng đang là sân chơi cần sự hợp tác của ba ông lớn này. Việc Mỹ kiềm chế Trung Quốc gần đây đã dẫn tới tình trạng “bằng mặt không bằng lòng” giữa hai quốc gia này. Nhưng với Nga lại khác. Thời gian qua, Nga đã khôn khéo từng bước thể hiện quan điểm đối với vấn đề biển Đông nên Trung Quốc chỉ dừng lại ở mức quan ngại, dè chừng.
Phía Mỹ cũng đã không ít lần kêu gọi và khuyến khích Nga thể hiện nhiều hơn trong vấn đề tranh chấp này. Vì thế việc Nga xuất hiện với vai trò cầu nối giữa hai ông lớn (Mỹ và Trung Quốc) để cùng tạo ra tam giác quyền lực nhằm giải quyết vấn đề biển Đông là một tương lai nên hướng tới. Các chuyên gia phân tích cũng đánh giá rằng “đây là thời điểm thích hợp nhất để Nga thể hiện vị thế và vai trò của mình”.
Sử dụng bàn đạp năng lượng
Hai là Nga tận dụng yếu tố năng lượng như là bàn đạp để can thiệp vào khu vực. Hiện nay năng lượng vẫn là nhân tố quan trọng định hình tương lai của khu vực cũng như thế giới. Theo ý kiến nhận định của hai chuyên gia người Trung Quốc, Xu Ping và Liu Shouxu, đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Vấn Đề Quốc Tế thì “với tư cách là cường quốc năng lượng có liên quan đến hầu hết mối liên kết năng lượng tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Nga có đủ khả năng để sử dụng ngoại giao năng lượng để gây áp lực và kiềm chế sự hung hăng của Trung Quốc, tiến tới giúp đỡ các quốc gia đang phát triển như Việt Nam”. Thông qua các hợp đồng khai thác năng lượng với các nước trong biển Đông, con đường hiện diện tại khu vực của Nga cũng sẽ rút ngắn lại. Việc Tập đoàn khí đốt Gazprom của Nga tuyên bố tham gia dự án khai thác khí đốt tại hai lô 5.2 và 5.3 ở biển Đông có thể coi là một khởi đầu cho việc sử dụng con bài chiến lược này.
Ba là Nga đẩy mạnh và hiện thực hóa các điều khoản trong mối quan hệ hợp tác với ASEAN và các nước thành viên như một phương thức để can thiệp vấn đề. Sau đó Nga sẽ chủ động hơn trong việc thể hiện tiếng nói của mình tại các diễn đàn lớn như APEC, EAS, ARF… Theo phân tích của chuyên gia Evgeny Kanaev, “trong tuyên bố hợp tác giữa Nga với ASEAN có nội dung mong muốn tăng cường hợp tác với ASEAN, bao gồm các vấn đề an ninh. Tranh chấp biển Đông là một vấn đề an ninh, nếu không muốn nói đó là vấn đề an ninh cấp thiết. Vì thế để thể hiện vị thế của mình và đi sâu hơn nữa trong mối quan hệ với ASEAN, Nga cần phải biến điều này thành thực chất, không thể nói suông”. Việc hiện thực hóa các điều khoản vừa giúp Nga nâng cao uy tín, vừa giúp “danh chính ngôn thuận” cho sự có mặt của mình.
Bên cạnh đó, ông Evgeny Kanaev cho rằng Nga cần đẩy mạnh hơn nữa các chiến lược ngoại giao với những quốc gia có liên quan trong tranh chấp. Nga cần dựa vào mối quan hệ chủ lực ở Đông Nam Á với Việt Nam nhằm lèo lái vấn đề theo hướng mà đa số mong muốn. Nga cần biết tận dụng cơ hội của mình ở những thời khắc quyết định. Đồng thời, Nga phải chú ý tách bạch các mối quan hệ với nhau và xử lý khéo léo những khúc mắc giữa các mối quan hệ tay ba như Nga – Trung – Việt.
Can dự nhưng không can thiệp
Điều đặc biệt là Nga cần phải tránh xa những động thái có thể dẫn đến căng thẳng. Nga cần biến mình thành một tác nhân tích cực nhằm can thiệp đến tình hình chứ không phải biến mình thành một đối tượng can dự trực tiếp trong vấn đề này.
Theo GS Vladimir Kolotov (Trưởng khoa sử Viễn Đông, ĐH Quốc gia St. Petersburg, Nga), “mục đích lớn nhất của Nga hiện nay là tạo nhiều mối quan hệ tốt đẹp để hòa nhập sâu rộng vào guồng quay của nền kinh tế năng động của khu vực. Những lợi ích xuất phát từ việc bán vũ khí không đóng vai trò là nguồn thu chính cho cả nền kinh tế to lớn của Nga cũng như bảo đảm cho tương lai phát triển của quốc gia”.
Từ đó có thể khẳng định rằng Nga sẽ xây dựng cho mình một kịch bản với những chiến lược can thiệp nhất định vào khu vực tranh chấp biển Đông để hướng tới lợi ích ngắn hạn và dài hạn của mình, dù hiện tại nước này chưa có nhiều động thái tích cực lắm. Vấn đề chỉ là sớm hay muộn mà thôi.
Tất nhiên, vấn đề giải quyết tranh chấp tại biển Đông là một bài toán rất khó, không thể giải quyết rốt ráo trong một sớm một chiều. Vì thế, nếu Nga tham gia đóng góp tích cực cho việc giữ ổn định và giải quyết tranh chấp bằng hòa bình thì sẽ nhận được sự chào đón nhiệt tình của các quốc gia liên quan và cả dư luận thế giới.
Điểm đến của vũ khí Nga
“Nguy cơ xung đột tại châu Á-Thái Bình Dương khiến nhiều quốc gia trong khu vực tăng ngân sách quân sự. Những yếu tố ấy khiến nhu cầu về vũ khí Nga tăng cao. Trong những năm gần đây, nhiều hợp đồng bán các gói tổng thể đã được ký” – The Voice of Russia dẫn lời ông Igor Korotcheko, Tổng Biên tập tạp chí National Defense.
Theo ông Korotcheko, nhu cầu về chiến đấu cơ là lớn nhất, sau đó là các tàu ngầm chạy diesel. “Nga cũng thành công trong việc xuất khẩu các khu trục hạm, tàu hộ tống có tên lửa dẫn đường. Các khách hàng nước ngoài cũng thể hiện sự quan tâm lớn tới những hệ thống phòng không và các xe bọc thép của Nga” – ông Korotcheko cho biết thêm.
Các quốc gia ở Đông Nam Á và khu vực châu Á-Thái Bình Dương là điểm đến của 43% số lượng vũ khí xuất khẩu của Nga trong năm 2012.
(PLTP)

Sát thủ ẩn mình’ giúp Việt Nam xoay cục diện ‘ván cờ biển Đông’ (Kỳ 1)


Các nhà phân tích chiến lược của Viện nghiên cứu S. Rajaratnam tại Singapore nhận định: “Kilo 636M sẽ là nhân tố giúp Việt Nam thay đổi cục diện ‘ván cờ biển Đông’”.
Lời cảnh cáo đanh thép của Việt Nam
Theo thông cáo của Cục thiết kế Rubin và Nhà máy đóng tàu Admiralty của Nga, chiếc tàu ngầm Kilo 636M đầu tiên của Việt Nam mang tên Hà Nội đã hoàn tất thử nghiệm và sẵn sàng để bàn giao cho Hải quân Việt Nam.
Các nhà phân tích chiến lược của Viện nghiên cứu S. Rajaratnam tại Singapore nhận định: “Kilo 636M sẽ là nhân tố giúp Việt Nam thay đổi cục diện ‘ván cờ biển Đông’”.

Tàu ngầm Kilo 636MV – nhân tố làm cân bằng cục diện biển Đông
Theo hợp đồng được ký từ năm 2009 giữa Việt Nam và Nga, 6 chiếc Kilo 636M được khởi đóng từ năm 2013, dự kiến, chiếc tàu cuối cùng sẽ được bàn giao cho Hải quân Việt Nam vào năm 2018, sau đó sẽ được chia đều để hoạt động tại các vùng biển ở Việt Nam.
Dự án 636M của Việt Nam được đánh giá là một trong những dự án nâng cấp cải tiến tham vọng nhất từ trước đến nay, với những công nghệ hiện đại nhất của Nga, thậm chí, các kỹ sư của Admiralty đã vấp phải nhiều khó khăn khi phải vận hành một hệ thống máy và điện tử trước nay họ chưa bao giờ gặp.
Xác nhận của Bộ trưởng bộ Quốc phòng Việt Nam với giới báo chí về hợp đồng Kilo trị giá 3 tỷ USD tại Hội nghị Thượng đỉnh an ninh châu Á hay còn gọi là Đối thoại Shangri-La đã khiến cho nhiều người vô cùng kinh ngạc, đặc biệt là giới phân tích và các học giả quân sự chiến lược. Tuy nhiên, đây được xem là một động thái tích cực của Việt Nam trên biển Đông nhằm đề phòng trước “gã khổng lồ xấu tính” ngay bên cạnh mình. Kilo 636M sẽ giúp Việt Nam bảo vệ được chủ quyền hợp pháp của mình trước những tuyên bố phi lý của Trung Quốc và trên hết là bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của chúng ta trong các vấn đề về khoáng sản và tuyến đường biển đi qua biển Đông.

Sản phẩm của mối quan hệ nồng ấm Việt Nam - Liên bang Nga

AIP – hệ thống mà Kilo Trung Quốc sẽ không bao giờ có được.
Tất nhiên, 6 chiếc Kilo của Việt Nam có thể sẽ chỉ như hạt gạo so với hạm đội Nam Hải được báo chí Trung Quốc gọi là: “Hạm đội hùng mạnh nhất Châu Á” nhưng trên thực tế, ai cũng biết rằng đây chỉ là “con hổ giấy” mà thôi. So với Lực lượng phòng vệ Nhật Bản, Hải quân Trung Quốc còn thua xa rất nhiều cả về chất lượng lẫn số lượng.

Thiết kế của Kilo 636MV của Hải quân Việt Nam
Tàu ngầm Kilo không phải ngẫu nhiên được gọi là “Hố đen” trên đại dương. Nếu Kilo 636M kết hợp với chiến thuật đánh du kích sáng tạo của Hải quân Việt Nam thì đó đúng là thảm kịch với Hải quân Trung Quốc. Hơn ai hết, Trung Quốc hiểu rõ lối đánh này của người Việt Nam, đó là lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh nhưng mang lại hiệu quả rất lớn.
Công nghệ đi trước tàu Kilo Trung Quốc đến 10 năm
Một điểm đáng chú ý là Kilo 636M của Việt Nam được trang bị các công nghệ đi trước tàu chiến của Hải quân Trung Quốc đến 10 năm.
Do Trung Quốc quá nổi tiếng với khả năng “sao chép công nghệ” nên dù cũng thuộc đề án 636M nhưng tàu ngầm Kilo mà họ đặt mua có khá nhiều bộ phận, thiết bị đặc biệt sử dụng công nghệ mới không được lắp đặt.
Số tiền của hợp đồng này tính ra thì Việt Nam phải trả nhiều hơn đến 100 triệu USD cho mỗi chiếc. Thực tế thì con số 100 triệu này nằm ở các bộ phận máy mới nhất, công nghệ sử dụng trên 636M của Việt Nam.

Ngư lôi Type 53 được sử dụng trên Kilo
Theo các đánh giá và so sánh thì 2 phiên bản Kilo của Hải quân Việt Nam sắp nhận và Hải quân Trung Quốc khác nhau rất nhiều điểm ở những điểm sau:
+ Kilo của Việt Nam được trang bị tên lửa Klub-S, với 3 phiên bản 3M54E, 3M-14E và 91RE1, trong khi đó, tàu Kilo Trung Quốc được trang bị loại 3M54E nhưng chỉ có một vài chiếc được trang bị công nghệ phóng tên lửa. Đa số, tàu ngầm Kilo của Trung Quốc chỉ có khả năng phóng ngư lôi mà thôi.
+ Kilo của Việt Nam còn được trang bị hệ thống phòng không tầm gần Igla-S, có thể tiêu diệt bất kỳ kẻ địch nào bay ở độ cao thấp rình rập nó phía trên không.
+ Hệ thống AIP (Air independent Propulsion) giúp Kilo có thể lặn nhiều ngày liền mà không cần nổi. Nga lo sợ việc Trung Quốc sẽ sao chép công nghệ nên không trang bị cho tàu Kilo của Trung Quốc hệ thống này.
+ Hệ thống điện tử trên tàu ngầm Kilo của Việt Nam đều là những phiên bản mới nâng cấp và cải tiến, dĩ nhiên, nó hơn gấp nhiều lần với loại sử dụng trên Kilo của Trung Quốc.
+ Cuối cùng là ngư lôi siêu khoang Shkval. Trung Quốc rất lo sợ Nga sẽ trang bị loại ngư lôi độc đáo này cho Việt Nam với tốc độ kinh hoàng của nó.

Hải quân Trung Quốc sẽ phải gánh chịu hậu quả nặng nề khi gây chiến ở biển Đông
Mục tiêu khó nhằn của Trung Quốc
Vì thế, nếu có một cuộc chiến ở biển Đông, sự hiện diện của Kilo 636M sẽ khiến Việt Nam trở thành một trong những mục tiêu khó nhằn với Trung Quốc bởi:
Thứ nhất: Trong quá khứ, Việt Nam chưa từng chịu thất bại trước bất kỳ kẻ thù nào dù khi đó, chúng ta chỉ có vũ khí thô sơ và bị áp đảo cả về công nghệ lẫn số lượng. Nhưng giờ đây, lần đầu tiên một khí tài của Việt Nam được đánh giá cao hơn kẻ sắp gây chiến.
Thứ hai: Tờ Hoàn Cầu từng lớn tiếng rằng: “Ở biển Đông có 2 kẻ cứng đầu nhất là Việt Nam và Phillipines. Với Phillipines thì hoàn toàn đơn giản nhưng với Việt Nam lại khác”. Đó là bởi Việt Nam đang sở hữu những công nghệ mới và hiện đại mà Trung Quốc không có, đặc biệt nguy hiểm và đáng sợ nhất là tàu Kilo của Việt Nam.
Thứ ba: Nếu tác chiến bên dưới lòng biển, có khác nào Kilo của Trung Quốc đang tự “đâm đầu vào rọ” khi đây là khu vực sân nhà và chắc chắn Việt Nam sẽ có nhiều biện pháp hỗ trợ Kilo.
Khoảng cách từ đất liền đến các vùng có khả năng xảy ra chiến sự tối đa là 634km. Như thế, Kilo của Hải quân Việt Nam sẽ nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ 2 hệ thống phòng thủ Bastion-P với Yakhont và cả loại tên lửa hành trình diệt hạm Shaddock vô cùng uy lực. Kilo sẽ tham gia tác chiến theo chiến thuật hợp đồng tác chiến và chiến tranh du kích nổi tiếng của Việt Nam, cùng với các hải đoàn như Gepard 3.9, Tarantul và Molnya. Bên cạnh đó, theo một số thông tin thì tại quần đảo Trường Sa sẽ có các căn cứ bí mật dành cho hạm đội tàu ngầm của Việt Nam trong tương lai.
Ngoài ra, Trung Quốc còn phải e dè những vấn đề sau:
- Ở sân nhà, Hải quân Việt Nam chắc chắn sẽ chiếm được lợi thế không nhỏ từ các điều kiện địa hình, khí hậu. Lực lượng của chúng ta thông thạo hơn khu vực này, trong khi ở bên kia chiến tuyến, Hải quân Trung Quốc vẫn còn dò dẫm. Không thể phủ nhận được những thiết bị hiện đại có thể giúp họ phần nào nhưng trong bất kỳ cuộc chiến này nhưng kinh nghiệm và hiểu biết mới là chìa khóa làm nên chiến thằng. Đó là điều mà người ta nói về “Nghệ thuật chiến tranh” mang tên Du kích trứ danh của Việt Nam.

Tại biển Đông, còn có "sát thủ" Scorpène của Hải quân Hoàng gia Malaysia.
- Việt Nam ở trạng thái phòng thủ và hiển nhiên, quân đội ta sẽ phòng thủ một cách chủ động như trong 2 cuộc chiến đã từng diễn ra trong thế kỷ XX. Trong cuộc chiến biên giới 1979, chỉ với 1 sư đoàn và một vài trung đội du kích nhưng quân đội ta đã cầm chân được quân đội Trung Quốc trong một tháng trời với hỏa lực và số lượng áp đảo.
- Một khi cuộc chiến xảy ra ở biển Đông, liệu ASEAN có nằm yên chờ đợi? Hơn ai hết, ASEAN và cả thế giới hiểu rằng biển Đông có tuyến đường giao thông huyết mạch rất quan trọng với nhiều cường quốc. Xét về những đồng minh chiến lược của Việt Nam thì Việt Nam không có đồng minh nào cả vì Việt Nam với chủ trương phòng vệ nên không gia nhập bất kỳ tổ chức quân sự nào. Tuy nhiên, chúng ta có một mối quan hệ rất thân tình với Liên Xô (nay là Nga) từ khi cả 2 còn là đồng minh thân cận với nhau trong thời kỳ chiến tranh.
Ở phía bên kia bán cầu còn có Mỹ. Gần đây, Trung Quốc nơm nớp lo sợ khi Mỹ liên tục kết thân với các thành viên của ASEAN, đặc biệt là Việt Nam, biểu hiện rõ nét là các tàu của họ liên tục cập cảng Cam Ranh để sửa chữa. Các tàu khu trục lớp Arleigh Burke liên tục đến thăm cảng Tiên Sa nhằm thắt chặt quan hệ hải quân giữa 2 quốc gia. Chắc chắn rằng, với kế hoạch xoay trục Châu Á-Thái Bình Dương sau 70 năm từ thế chiến thứ nhất với Nhật Bản, Mỹ sẽ không để Trung Quốc “tự tung tự tác”. Lần quay trở lại này đánh dấu bước ngoặt quan trọng của Mỹ là chính sách thắt chặt an ninh với Trung Quốc.
- Cuối cùng là dư luận quốc tế. Liệu cả thế giới sẽ phản ứng thế nào nếu như một quốc gia lớn hơn rất nhiều, lại là một thành viên của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc vô cớ tấn công một quốc gia chỉ vì những đòi hỏi phi lý.
Singapore, Malaysia, Indonesia và Thái Lan là các nước trong khu vực châu Á sở hữu tàu ngầm trước Việt Nam nhưng chỉ có Việt Nam, Singapore, Malaysia và Indonesia sỡ hữu tàu ngầm để phòng vệ trước mối nguy hiểm từ Trung Quốc. Là anh cả của khu vực nhưng Hải quân Singapore chỉ có 2 chiếc thuộc lớp Archer của Thụy Điển là RSS Archer và RSS Swordman. Tuy nhiên, với Việt Nam lại khác, nước ta có đường biển dài và trải dài từ bắc xuống nam nên 6 chiếc Kilo trong tình hình hiện tại sẽ tạm thời đáp ứng được những nhu cầu trước mặt. Trong tương lai, Việt Nam sẽ trang bị nhiều tàu Kilo hơn nữa nếu như thái độ của Trung Quốc vẫn không cải thiện.
(VOR)

Sát thủ ‘ngang tài ngang sức’ với tàu Kilo Việt Nam ở biển Đông (Kỳ 2)


Tàu ngầm lớp Scorpène được đánh giá là không thua kém gì tàu ngầm Kilo 636MV mà Việt Nam sắp nhận và tàu ngầm lớp Archer của Hải quân Singapore. Cùng với Kilo 636MV và Archer, Scorpène sẽ là một trong những trở ngại lớn của Hải quân Trung Quốc.
“Rắn độc” Scorpène
Hiện nay, Hải quân Trung Quốc (PLAN) ngày càng hung hăng và liên tục làm phức tạp thêm tình hình trên biển Đông. Malaysia cũng không nằm ngoài cuộc chiến này khi mới đây nhất, một hải đoàn của Trung Quốc gồm một tàu đổ bộ và hai chiếc khu trục hộ tống đã tiến đến khu vực bãi cạn James Shoal (cách thị trấn Bintulu, Malaysia khoảng 80km) rồi lớn tiếng tuyên bố: “James Shoal là điểm cực nam của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”.

Chiếc KD Tunku Abdul Rahman của Hải quân Hoàng gia Malaysia đang chuẩn bị cho một chuyến tuần tra
Những tuyên bố lộng quyền và vô căn cứ này đã khiến cho dư luận ASEAN và cộng đồng quốc tế vô cùng bức xúc, dù gần đây nhất, tại Hội nghi Shangri-La 201, Trung Quốc khẳng định sẽ không làm phức tạp tình hình và giải quyết các xung đột về tranh chấp chủ quyền một cách hòa bình nhất.
Việc Trung Quốc tiến sát bãi cạn James Shoal đã khiến dư luận Malaysia vô cùng phẫn nộ. Trong một bài phát biểu của mình, Bộ trưởng bộ Quốc phòng Malaysia, ông Hishammuddin Hussein đã lên tiếng chỉ trích những hành động vô căn cứ, “nói một đằng, là một nẻo” của Trung Quốc. Điều nực cười là Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với bãi cạn James Shoal khi nơi đây cách đất liền của Trung Quốc tới 2.500km.

Cấu tạo của tàu ngầm lớp Scorpène
Trước mối đe dọa từ “gã khổng lồ xấu tính” Trung Quốc, Malaysia cũng như các quốc gia khác trong khối ASEAN đang tích cực mua sắm vũ khí để phòng vệ.
Malaysia đang sở hữu một đội tàu chiến khá hiện đại và được vũ trang rất mạnh. Hiện có 8 chiếc tàu khu trục cỡ trung và cỡ nhỏ trang bị các tên lửa đối hạm Harpoon của Hoa Kỳ hoặc Exocet của Pháp phục vụ trong Hải quân Malaysia. Tuy nhiên, vũ khí lợi hại nhất của hải quân nước này chính là chiếc tàu ngầm lớp Scorpène với biệt danh “rắn độc”. Sở dĩ Scorpène được mệnh danh là “rắn độc” chính là nhờ khả năng rình rập và tấn công đối thủ bằng những đòn tấn công mạnh mẽ, khiến cho bất kỳ kẻ thù nào cũng phải hoảng sợ.
“Ngang tài ngang sức” với Kilo 636MV
Tàu ngầm lớp Scorpène được đánh giá là không thua kém gì tàu ngầm Kilo 636MV mà Việt Nam sắp nhận và tàu ngầm Archer của Hải quân Singapore.
Scorpène là một trong những lớp tàu ngầm do Pháp nghiên cứu và chế tạo. Đây là loại tàu ngầm chạy bằng diesel-điện, hoạt động vô cùng êm ái và có thể qua mặt được các hệ thống sonar định vị thủy âm hiện nay.
Scorpène ban đầu được phát triển bởi tập đoàn công nghiệp hàng hải và kỹ thuật hải quân DCNS của Pháp. Sau đó, từ năm 2005 Scorpène là sản phẩm hợp tác của DCNS và tập đoàn Navantia của Tây Ban Nha. Hiện nay, DCNS phát triển hệ thống máy và khung sườn, còn Navantia nghiên cứu phát triển hệ thống radar kiểm soát hỏa lực và hệ thống tiềm vọng laser cho Scorpène.
Scorpène được các chuyên gia quân sự đánh giá là “ngang tài ngang sức” với “hố đen” Kilo 636MV nhờ khả năng hấp thụ sonar và có thể vô hình với bất cứ hệ thống sonar định vị thủy âm nào hiện nay. Scorpène của Malaysia hiện đang được trang bị những hệ thống và công nghệ mới nhất. Độ ồn của Scorpène được giới chuyên môn đánh giá nhận định là ngang bằng với “hố đen” Kilo.

Chiếc KD Tun Razak trong một chuyến tuần tra biển
Lớp khung được cấu thành từ sợi carbon và hợp kim titan nên khung sườn của Scorpène có khả năng đàn hồi rất cao trong mọi điều kiện thời tiết. Ngoài ra, phần thân của Scorpène có khả năng chịu được áp lực cao.
Theo nhà sản xuất DCNS, Scorpène có khả năng lặn sâu đến hơn 380m. Trong một cuộc thử nghiệm gần đây, Scorpène thậm chí lặn sâu đến 430m và có thể hoạt động được liên tục trong vòng 4 giờ đồng hồ. Scorpène được trang bị một lớp vỏ có khả năng hấp thụ sóng sonar cao và lớp vỏ này còn hạn chế được độ ồn bên trong tàu. Lớp vỏ của Scorpène được cấu thành từ sợi carbon và hợp kim titan gồm 3 lớp, mỗi lớp dày 2.5cm và cách nhau 3.0 cm, ngăn cách với nhau bởi một lớp khí Heli nhằm giảm thiểu tối đa độ ồn từ bên trong phát ra bên ngoài.
Lớp khung được cấu thành từ sợi carbon và hợp kim titan nên khung sườn của Scorpène có khả năng đàn hồi rất cao trong mọi điều kiện thời tiết. Ngoài ra, phần thân của Scorpène có khả năng chịu được áp lực cao.
Theo nhà sản xuất DCNS, Scorpène có khả năng lặn sâu đến hơn 380m. Trong một cuộc thử nghiệm gần đây, Scorpène thậm chí lặn sâu đến 430m và có thể hoạt động được liên tục trong vòng 4 giờ đồng hồ. Scorpène được trang bị một lớp vỏ có khả năng hấp thụ sóng sonar cao và lớp vỏ này còn hạn chế được độ ồn bên trong tàu. Lớp vỏ của Scorpène được cấu thành từ sợi carbon và hợp kim titan gồm 3 lớp, mỗi lớp dày 2.5cm và cách nhau 3.0 cm, ngăn cách với nhau bởi một lớp khí Heli nhằm giảm thiểu tối đa độ ồn từ bên trong phát ra bên ngoài.
Hệ thống MESMA vượt trội AIP của Kilo
Scorpène còn có một điểm cộng sáng giá khác là hệ thống AIP (hệ thống động cơ đẩy sử dụng không khí độc lập) do chính Pháp và Thụy Điển hợp tác phát triển. Hệ thống AIP này của Pháp có tên là MESMA. MESMA được đánh giá rất cao nhờ khả năng hoạt động vô cùng hiệu quả. MESMA và được đánh giá vượt trội hơn cả AIP do Nga và Thụy Điển phát triển. MESMA là một hệ thống độc lập được lắp đặt trong khoang máy của Scorpène, với cấu trúc tương tự như AIP của Kilo. Tuy nhiên, MESMA được phát triển và trang bị những công nghệ mới nhất hiện nay.

Cùng với Kilo 636MV và Archer, Scorpène sẽ là một trong những trở ngại của Hải quân Trung Quốc.
Nhờ hệ thống MESMA, Scorpène có thể hoạt động liên tục 71 ngày mà không cần nổi lên để nạp lại hệ thống. MESMA giúp Scorpène nhỉnh hơn cả Kilo 636MV của Việt Nam và Archer của Singapore khi 636MV chỉ hoạt động được liên tục trong 45 ngày và tàu ngầm Archer là 35 ngày.
Điểm cộng sáng giá nhất của Scorpène là có khả năng hoạt động được trong mọi điều kiện thời tiết và là chìa khóa giúp Scorpène trở nên vô hình trên hệ thống định vị sonar của bất kỳ kẻ săn ngầm nào. Đây chính là điều khiến cho Scorpène, Kilo 636MV và Archer vượt trội hơn hoàn toàn so với bất kỳ loại tàu ngầm nào của Hải quân Trung Quốc. Đặc biệt, tất cả đều có khả năng hoạt động vô cùng êm ái, trong khi tàu ngầm Trung Quốc bị chê là “khua chiêng gõ mõ” với độ ồn vượt quá mức tiêu chuẩn hiện nay.
“Nọc độc” của Scorpène
Scorpène được trang bị hệ thống radar quét mảng pha bị động song song, tích hợp dẫn đường DR3000 do hãng Thales phát triển và hệ thống sonar TSM2233M và TSM2253. Điểm đặc biệt của hệ thống sonar này là được tích hợp công nghệ quét mảng đa chiều S-Cube, một hệ thống tích hợp khá hiện đại và được đánh giá rất cao hiện nay. Scorpène còn có một hệ thống kiểm soát và tác chiến tối tân do chính DCNS phát triển có tên là DCNS SUBTICS. Hệ thống này chính là đầu não của tất cả các hệ thống radar, định vị sonar và radar kiểm soát hỏa lực. SUBTICS có khả năng tấn công và điều khiển một lúc 6 ngư lôi WASS “Black Shark” có đầu dẫn thông mình hoặc 8 tên lửa đối hạm Exocet SM39.

Chiếc KD Tunku Abdul Rahman phóng tên lửa diệt hạm Exocet SM39
Scorpène có cái tên “rắn độc” cũng chính là nhờ 2 vũ khí có khả năng hủy diệt khủng khiếp là ngư lôi WASS “Black Shark” và tên lửa đối hạm Exocet SM39. WASS “Black Shark” là một trong số nhiều loại ngư lôi hạng nặng do Tập đoàn WhiteHead Div và Alenia Difesa của Italy và Hà Lan hợp tác nghiên cứu.
WASS “Black Shark” là một trong số những loại ngư lôi có điều khiển thông qua đầu dẫn thông minh với tốc độ liên đến 127km/h, tương đương với Mk48 của Hoa Kỳ. “Black Shark” có khả năng mang được đầu đạn nổ hạng nặng STANAG 4439 hoặc đầu đạn hạt nhân. Đây là một trong 2 loại vũ khí có sức hủy diệt mạnh mẽ.
“Black Shark” tuy không được đánh giá cao như Shkval 2E của Kilo 636MV nhưng “Black Shark” là một trong nhiều loại ngư lôi có đầu dẫn thông mình hoạt động hiệu quả nhất hiện nay. Scorpène được trang bị 6 ống phóng trên mũi tàu và có thể điều khiển một lúc 6 ngư lôi dẫn đường thông qua hệ thống DCNS SUBTICS.
Vũ khí thứ 2 làm nên tên tuổi của Scorpène là tên lửa diệt hạm Exocet. Exocet là một trong số nhiều loại tên lửa đối hạm mạnh nhất hiện nay. Ngoài Scorpène, loại tên lửa này còn được trang bị trên một số khu trục hạm của Malaysia. Tên lửa Exocet được lắp đặt trên tàu ngầm lớp Scorpène là biến thể SM39. Scorpène của Malaysia được trang bị loại SM39 mới nhất thuộc loại MM39 và MM40 Block 2. Tầm hoạt động lên đến 180km và được trang bị công nghệ Sea-skiming, có thể qua mặt được nhiều hệ thống radar đánh chặn và hệ thống phòng thủ tầm gần.
(VOR)

Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

Diễn tập "Carat 2013" trên biển Đông - "sóng thần" với Trung Quốc


(10:45 23/06/2013) Tờ Đông Phương ngày 21/06 đưa tin, quân đội Philippines đã xác nhận, hải quân đánh bộ nước này đã hoàn tất việc thay quân và tiếp tế cho lực lượng đồn trú trái phép tại bãi Cỏ Mây thuộc quân đảo Trường Sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông mà không gặp sự ngăn cản nào của quân đội Trung Quốc.


Vừa qua, Bộ trưởng quốc phòng Voltaire Gazmin và Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Philippines Emmanuel Bautista đồng thời xác nhận, lần thay quân và bổ sung tiếp tế cho đảo Ayungin (Việt Nam gọi là bãi Cỏ Mây, Trung Quốc gọi là Ren'ai Jiao, tên tiếng Anh là Second Thomas Shoal) đã hoàn thành tốt đẹp, không gặp phải sự ngăn cản nào từ phía quân đội Trung Quốc.

Tiếp theo, từ ngày 27/06 đến ngày 02/07, hải quân Philippines và hải quân Mỹ cũng tổ chức một cuộc diễn tập rất lớn ở khu vực biển gần Scaborough (Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham) trên biển Đông.

Các phương tiện truyền thông Trung Quốc cho biết, diễn tập “Carat 2013” có sự tham gia của tàu tác chiến ven bờ (LSC) mới được điều động đến biển Đông đảm nhận nhiệm vụ thường trực sẵn sàng chiến đấu (Cảng chính tại Changi - Singapore). Đồng thời, hải quân Mỹ sẽ huy động lực lượng lớn nhất trong lịch sử.


Khu trục hạm DDG-54 USS Curtis Wilbur cùng khu trục hạm DDG-89 USS Mustin và tuần dương hạm CG-63 USS Cowpens hộ tống tàu sân bay CV-63 USS Kitty Hawk 


Diễn tập "Carat 2013" là chuỗi diễn tập song phương được tổ chức thường niên giữa Mỹ và hải quân 8 nước ASEAN, bao gồm Campuchia, Philippines, Đông Timor (Timor-Leste), Malaysia, Singapore, Thái Lan, Indonesia và Brunei. Hải quân Mỹ sẽ lần lượt diễn tập song phương với từng quốc gia trong 8 nước này.

“CARAT” có ý nghĩa là “Hợp tác huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu trên biển”. Sự khác biệt lớn nhất so với các năm trước là số lượng binh lính, tàu thuyền và các khoa mục huấn luyện của quân đội Mỹ đều lập kỷ lục. Ngoài ra, tham dự diễn tập lần này còn có một quốc gia ngoài Đông nam Á là Bangladesh.

Một quan chức quốc phòng Malaysia cho biết, trực tiếp tham gia diễn tập là Đội đặc nhiệm 73 của hải quân Mỹ. Đội đặc nhiệm này được cấu thành từ các lực lượng hải quân, hải quân đánh bộ và nhân viên chấp pháp hải dương, với tổng quân số khoảng 1200 người. 



Tàu tác chiến ven bờ LSC-1 USS Freedom rời cảng Changi của Singapore lên đường tham gia diễn tập "Carat 2013"


Các chiến hạm thuộc Đội đặc nhiệm 73 bao gồm: Tàu vận tải đổ bộ USS Tortuga (LSD-46), tàu khu trục tên lửa USS Curtis Wilbur (DDG-54), tàu vận tải USNS Washington Chambers (T-AKE 11) và tàu trục vớt, cứu hộ USNS Safeguard (T-ARS 50).

Lực lượng hải quân đánh bộ tham gia diễn tập bao gồm: Tiểu đoàn tấn công hỏa lực thuộc sư đoàn 3; tiểu đoàn đổ bộ tấn công số 2 của sư đoàn 2 và đại đội 1 của tiểu đoàn 3, trung đoàn hải quân đánh bộ 3. Tất cả các đơn vị này đều là đơn vị trực thuộc Cụm hải quân đánh bộ viễn chinh số 3.

Bộ tư lệnh huấn luyện nghiệp vụ và an ninh trên biển của Mỹ cũng cử lực lượng tham gia, bao gồm: Tiểu đoàn công binh công trình cơ động số 5, phân đội rà phá bom mìn số 5. Ngoài ra, Bộ tư lệnh này cũng còn cử đến các nhân viên y tế trực thuộc và một máy bay trinh sát chống ngầm cất cánh từ đất liền P-3C Orion và một số trực thăng hạm MH-60 Sea Hawk. 



Tàu khu trục tên lửa DDG-54 USS Curtis Wilbur (bên ngoài) và tuần dương hạm CG-54 USS Antietam



Thế nhưng, điều đáng chú ý nhất là sự tham gia của tàu tác chiến ven bờ LSC-1 Freedom mới được cử đến thường trực chiến đấu ở Singapore. Vị quan chức quốc phòng Malaysia cho biết: “Đây là một trong những lớp tàu chiến đấu hiện đại nhất của hải quân Mỹ trong tương lai. Nó sẽ khởi hành từ Singapore đến tham gia diễn tập với Indonesia, Malaysia, sau đó, LSC-1 sẽ đến biển Đông tham gia diễn tập với hải quân Philippines”. 

Thời gian gần đây, tranh chấp giữa Philippines – Trung Quốc càng nóng lên, khi ngày 6/6 Manila cho biết, hình ảnh vệ tinh nước này phát hiện Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng trái phép các công trình trên bãi cạn Scarborough mà Bắc Kinh chiếm quyền kiểm soát từ Manila hồi tháng 4/2012.

Cách đây vài ngày, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin đã phát biểu với truyền thông nước này là Trung Quốc đã rào cửa ngõ vào đầm phá bãi cạn Scarborough ngăn cản ngư dân Philippines quay lại ngư trường truyền thống trong vùng biển chủ quyền của mình. Vì vậy, trong tình hình này, diễn tập Mỹ - Phi "Carat 2013" lại càng gây được sự chú với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc.


Cứ điểm duy nhất của hải quân đánh bộ Philippines tại đảo Ayungin


Khác với diễn tập "Carat 2012" gồm các khoa mục chủ yếu là: Cứu trợ nhân đạo, hiệp đồng chỉ huy và thông tin, "Carat 2013" sẽ có thêm nhiều khoa mục chiến đấu như: Hợp tác chống ngầm, tác chiến nổ dưới nước, bắn đạn thật các loại, đánh chiếm và củng cố phòng ngự đảo… Về phía hải quân Philippines, Manila sẽ điều động tham gia diễn tập những quân hạm lớn nhất của họ.

Theo Hãng tin Pháp AFP (Agence France-Presse), địa điểm diễn tập chủ yếu cách khu vực bãi cạn Scaborough (đảo Hoàng Nham) khoảng 108km, bao gồm một vùng biển rộng trên 10.000 km2. Lực lượng hải quân, bảo vệ bờ biển và lực lượng chấp pháp biển của Philippines đều được điều động tham gia cuộc diễn tập này.

Điều đáng nói là có những khoa mục diễn tập sẽ diễn ra chỉ cách Scaborough vẻn vẹn 37 hải lý. Điều này là Trung Quốc rất lo lắng bởi vì họ sợ liên quân Mỹ - Phi sẽ có những động thái đe dọa đến lực lượng xây dựng công trình của họ tại khu vực bãi cạn Scaborough hoặc táo bạo hơn là uy hiếp để giành lại quyền kiểm soát bãi cạn thuộc khu vực biển giàu tài nguyên và là một ngư trường khổng lồ này.