CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996                                  TIN TỔNGHỢP                     GIÃ SỬ                         QUÂNSỰ                    CHUYỆN LẠ              WEB                                    

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013

Đỗ Văn Long: "Philippines "dám" điều quân tới bãi cạn Scarborough"

Đỗ Văn Long cho rằng, năm nay cuộc diễn tập quân sự Mỹ-Philippines sẽ đưa khu vực diễn tập hướng ra khu vực xung quanh bãi cạn Scarborough.


Philippines dám điều quân tới bãi cạn Scarborough

Tờ "Nhân Dân" Trung Quốc ngày 30 tháng 6 cho biết, cuộc diễn tập quân sự liên hợp "Carat-2013" trên biển Đông giữa Mỹ-Philippines đã khai mạc ngày 27 tháng 6. Mặc dù là diễn tập thường niên, nhưng diễn tập lần này chọn địa điểm ở khu vực gần bãi cạn Scarborough, gây chú ý.

Chuyên gia quân sự Đỗ Văn Long trả lời phỏng vấn Đài truyền hình Bắc Kinh cho rằng, mong muốn giành lại chủ quyền bãi cạn Scarborough của Philippines vẫn còn. Phía Philippines cho rằng năng lực quân sự của họ nếu áp sát bãi cạn Scarborough, thì trong tương lai có khả năng đưa quân tới hướng này.

Tờ "Philippine Daily Inquirer" ngày 27 tháng 6 cho biết, cuộc diễn tập này kéo dài 6 ngày, khu vực diễn tập nằm ở vùng biển phía tây hòn đảo chính Luzon của Philippines. Khoa mục diễn tập gồm có hành động trong bến cảng và trên biển, huấn luyện cá nhân và đơn vị, phối hợp với khu dân cư địa phương.

Hải quân Philippines ra tuyên bố cho biết: "Mục đích chính của Carat-2013 là nâng cao năng lực tác chiến trên biển cho hải quân hai nước Mỹ-Philippines... Chẳng hạn thông tin, chiến thuật pháo hải quân, tác nghiệp trên biển, phong tỏa trên biển, cứu trợ nhân đạo và cứu hộ thiên tai, tăng cường năng lực kết nối trong tác chiến liên hợp giữa hải quân hai nước Mỹ-Philippines".

Binh sĩ Thủy quân đánh bộ Mỹ tới vịnh Subic của Philippines


Đỗ Văn Long cho rằng, năm nay cuộc diễn tập quân sự Mỹ-Philippines sẽ đưa khu vực diễn tập hướng ra khu vực xung quanh bãi cạn Scarborough. Philippines sở dĩ đưa địa điểm diễn tập hướng ra khu vực này là muốn truyền đi hai dụng ý:

Thứ nhất, Quân đội Philippines có can đảm tới gần khu vực này, đối với vấn đề bãi cạn Scarborough, họ vẫn có cảm giác mình không thất bại, hơn nữa tham vọng chủ quyền bãi cạn Scarborough vẫn còn tồn tại. Philippines cho rằng, năng lực quân sự của họ nếu có thể tới gần bãi cạn Scarborough, thì sau này có năng lực điều động lực lượng tới hướng này.

Thứ hai, hành động diễn tập liên hợp này có Mỹ tham gia, nên có thông điệp là, Mỹ cũng sẵn sàng áp sát khu vực này. Một khi có hành động tác chiến, phía Philippines dựa vào vị trí của mình tại  khu vực này, có thể lôi kéo quân Mỹ đến bãi cạn Scarborough.

Như vậy, Philippines muốn thông qua cuộc diễn tập quân sự liên hợp lần này để thể hiện, nếu Trung Quốc tiếp tục cứng rắn trên hướng đó, tiếp tục gây tranh chấp gay gắt với Philippines, thì họ có năng lực sử dụng năng lực tác chiến liên hợp này hoặc hành động tác chiến để cứng rắn ới Trung Quốc.

Philippines 15 năm nữa sẽ xây dựng thành Lục quân cấp thế giớiTờ "Jane's Defense Weekly" ngày 26 tháng 6 cho rằng, hiện nay Lục quân Philippines đang trải qua một giai đoạn chuyển đổi, đây cũng là một phần của chiến lược tái thiết và hiện đại hóa lực lượng vũ trang quốc gia do Tổng thống Philippines Aquino đưa ra.

Tư lệnh Lục quân Philippines Noel Abrigo Coballes cho biết, Lục quân Philippines đã đặt ra "Đường lối chuyển đổi Lục quân" (ATR), hơn nữa mục tiêu cuối cùng của đường lối này là xây dựng một lực lượng lục quân cấp thế giới trước năm 2028.

Tàu tuần tra lớp Hamilton, Philippines mua của Mỹ

Noel Abrigo Coballes cho biết, năm nay, Lục quân Philippines sẽ tiến hành tổ chức lại các bộ phận, mọi người sẽ nhìn thấy sự sắp xếp các bộ phận hợp lý hơn. Nhưng, "điều này không có nghĩa là phải giảm quân số, mà là cần cắt giảm bộ phận".

Ngoài ra, ngày 1 tháng 3, Philippines tiến hành điều chỉnh quyền quản lý khu vực của Bộ Tư lệnh miền Đông và miền Tây Mindanao thuộc hải quân, trong đó Sư đoàn bộ binh 6 Philippines do Bộ Tư lệnh miền Tây chỉ huy.

Như vậy, Sư đoàn bộ binh 6 của Lực lượng vũ trang Philippines không chỉ có thể bảo đảm an ninh cho khu tự trị Hồi giáo địa phương, mà còn có thể tấn công các tổ chức khủng bố dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh miền Tây. Không chỉ như vậy, Bộ Tư lệnh miền Đông cũng có thể tập trung sức mạnh đối phó quân nổi dậy miền đông đảo Mindanao.

Tờ "Jane's" cho rằng, mối đe dọa do "Mặt trận giải phóng Hồi giáo Molech" - quân chống chính phủ lớn nhất Philippines - giảm xuống là nhân tố quan trọng thúc đẩy quyết sách này. Theo tướng Coballes thì đây không chỉ là xuất phát từ nhu cầu của môi trường hoạt động, mà còn là thành quả ký kết Thỏa thuận khung Molech với "Mặt trận giải phóng Hồi giáo Molech".

Theo bài báo, do mải tập trung cho bảo vệ an ninh trong nước, nên trong một thời gian dài Philippines coi nhẹ phòng thủ đối với bên ngoài. Việc Trung Quốc kiên quyết đòi hỏi bằng được chủ quyền ở Biển Đông khiến cho Philippines lo ngại. Do đó, Philippines đã chủ yếu tập trung đầu tư cho quân sự để nâng cao hiện đại hóa quân đội, bao gồm kế hoạch đầu tư 75 tỷ Peso (1,7 tỷ USD) trước năm 2017.

Tàu tuần tra thứ hai Philippines mua của Mỹ


Coballes cho biết: "Trong 5 năm tới, chúng tôi sẽ hoàn thiện hệ thống tác chiến ban đêm và các cơ sở phòng thủ của chúng tôi, hơn nữa tôi hy vọng có thể đưa máy bay không người lái vào danh sách mua sắm".

Ông Coballes cho biết: "Chúng tôi lấy Đường lối chuyển đổi Lục quân để chỉ đạo các chiến sĩ, từ đó để họ có tính chuyên nghiệp hơn". Ông nói thêm rằng: "Mục tiêu của Đường lối chuyển đổi Lục quân là xây dựng một lực lượng Lục quân cấp thế giới trước năm 2028, đó sẽ là niềm tự hào của đất nước chúng tôi".



Việt Dũng / GDVN

Báo TQ tự tin về tầu ngầm dám đối đầu Kilo

Vài ngày qua, truyền thông TQ bắt đấu mang tàu ngầm kiểu 039 của mình ra để so sánh với tàu ngầm Kilo, nhưng có vẻ sự so sánh là khập khiễng...

Không chỉ tiếp tục khẳng định sức mạnh ngầm của mình, báo chí TQ còn cho rằng, tàu ngầm kiểu 039 của nước này có thiết kế và tính năng có nhiều điểm tương đồng với tầu ngầm lớp Kilo và có sức mạnh chiến đấu nhỉnh hơn tầu ngầm của Nga.
Đây là loại tàu ngầm đầu tiên do TQ tự mình thiết kế và chế tạo để thay thế cho các tàu ngầm Đề án 633 do Liên Xô cung cấp trước đây.
Loại tầu này được thiết kế để tấn công cả tàu ngầm lẫn tàu nổi với ngư lôi, nó sử dụng thiết kế hình giọt nước để có hình dáng khí động học hơn khi di chuyển. Nó có 4 bánh lái với 1 chân vịt duy nhất.
Để giảm tiếng ồn động cơ được gắn bộ phận giảm âm và thân tàu được bọc các miếng cao su để chống phản hồi âm thanh. Tuy nhiên chỉ có duy nhất một chiếc được chế tạo theo thiết kế ban đầu (320) vì vấn đề tiếng ồn và khả năng di chuyển dưới nước đã bắt buộc phải sửa lại thiết kế.
Đây cũng được xem là điểm yếu cố hữu của tầu ngầm TQ kể cả vào thời điểm hiện tại, tuy nhiên báo chí nước này thì vẫn tin vào khả năng đối đấu của tầu ngầm kiểu 039 với tầu ngầm Kilo hiện đại.
Sau đó Bắc Kinh đã cải tiến 039 thành nhiều loại khác nhau, nhưng chỉ có kiểu tàu 039A mới đáp ứng được sự kỳ vọng nhiều hơn từ Bắc Kinh. Theo đó, kiểu 039A có tháp tiềm vọng giống như các loại tàu ngầm khác nhưng nó không có hai cánh ngang giống như hai kiểu trước.
Tàu ngầm Kiểu 039 sử dụng ngư lôi Yu-4 533m sản xuất trong nước có khả năng tìm mục tiêu thụ động bằng âm thanh với tốc độ 40 knot (74 km/h). Nó có thể tấn công các mục tiêu nổi với phạm vi 15 km. Ngư lôi Yu-6 điều khiển bằng dây cước cũng có thể được sử dụng.
Ngoài ra, 039 còn có thể phóng tên lửa đối hạm YJ-8 bằng chính ống phóng ngư lôi để tấn công các mục tiêu ở phạm vi 80 km. Hoặc nó có thể mang từ 24 đến 36 thủy lôi cũng được thả qua các ống ngư lôi. Nó cũng đã thành công trong việc bắn thử nghiệm tên lửa chống tàu ngầm CY-1.
Mặc dù được đề cao ngay cả với tầu ngầm kiểu 039A cải tiến, nhưng báo chí quốc tế vẫn tin rằng sức mạnh ngầm của TQ từ những chiếc tầu diesel không được đánh giá cao ngoại trừ đội tầu Kilo có nguồn gốc từ Nga. Bằng chứng là Bắc Kinh đã nhập khẩu hệ thống sóng âm Thales TSM 2233 ELEDONE / DSUV-22 và Thales TSM 2255 / DUUX-5 từ Pháp cũng như các hệ thống sóng âm MG-519 MOUSE ROAR, MGK-500 SHARK GILL của Nga khi mua các tàu ngầm lớp Kilo để trang bị thêm cho 039A cùng với đó lớp tầu ngầm này còn được trang bị thêm một ra đa để dò tìm tương tự như MRK-50 SNOOP TRAY, nhưng khi những chiếc tầu ngầm 039A được xuất sang quốc gia nước ngoài duy nhất là Pakistan thì hiệu năng sử dụng được đánh giá rất kém.
Báo chí Ấn Độ cũng khẳng định rằng những tầu ngầm Pakistan đang có từ sự giúp đỡ của TQ dễ dàng trở thành những tấm bia thử đạn của tầu ngầm nước này, dù đã có nhiều cải tiến nhưng rõ ràng những chiếc tầu ngầm của TQ vẫn khó có thể khắc phục được điểm yếu cố hữu về tiếng ồn khi hoạt động. Các chuyên gia quân sự Trung Quốc tự tin tuyên bố rằng, loại tàu ngầm này còn hiện đại hơn cả tàu ngầm lớp Lada của Nga dù tuyên bố này không được xác nhận bởi một bên thứ 3, đây chính là mấu chốt quan trọng của vấn đề

Tên lửa DF-21D Trung Quốc không hề dễ đánh chìm được tàu sân bay Mỹ

Mỹ có kế hoạch chế thêm tàu sân bay cỡ vừa/nhẹ, máy bay chiến đấu tầm xa, xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa, trang bị vũ khí hạt nhân chiến thuật...


Hạm đội tàu sân bay Mỹ ở biển Nhật Bản

Truyền thông Mỹ gần đây phỏng đoán, tên lửa đạn đạo chống tàu sân bay của Quân đội Trung Quốc không chỉ đã đưa vào triển khai, mà còn đã bắt đầu phát triển phiên bản tăng cường.

Trong tương lai, nếu quân Mỹ còn muốn điều tàu sân bay tiến hành răn đe ở xung quanh Trung Quốc, thì phải làm tốt công tác chuẩn bị sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật trên tàu. Theo báo Trung Quốc thì Mỹ lấy cớ như vậy để tiếp tục mở rộng lực lượng tác chiến triển khai ở khu vực xung quanh Trung Quốc.

Đông Phong -21D có thể thay đổi hướng bay?

"China in Brief" của Quỹ Jamestown Mỹ phỏng đoán, tên lửa đạn đạo chống tàu sân bay Đông Phong -21D Trung Quốc có thể đã đưa vào triển khai. Kế tiếp, Quân đội Trung Quốc có thể nghiên cứu phát triển tên lửa đạn đạo chống hạm khác có đặc điểm khác, đóng vai trò bổ sung.

Tạp chí "Học giả Ngoại giao" Nhật Bản thì phỏng đoán, mặc dù phần lớn báo cáo (trong đó có báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ) đều dự đoán, tầm phóng của tên lửa đạn đạo chống hạm Trung Quốc "khoảng 1.500 km", nhưng xét việc Trung Quốc có thể đã giải quyết được vấn đề nan giải ngắm chuẩn và tấn công tàu di động trên biển, Trung Quốc có thể đã bắt đầu tìm cách tăng tầm phóng cho tên lửa đạn đạo chống hạm.

Trang mạng Học viện Chiến tranh Hải quân Mỹ cho rằng, một khi "sát thủ tàu sân bay" tầm phóng xa hơn ra đời, sách lược sử dụng cụm chiến đấu tàu sân bay đe dọa Trung Quốc của quân Mỹ sẽ bị tác động nghiêm trọng.

Hai năm gần đây, các tàu sân bay USS Washington, USS Carl Vinson và USS Nimitz đều đã xuất hiện ở các vùng biển xung quanh Trung Quốc, điều này cho thấy trong tương lai quân Mỹ có thể cân nhắc triển khai 3 cụm tàu sân bay ở khu vực xung quanh Trung Quốc để ứng phó với "tình hình căng thẳng".

Nhưng, xét tới năng lực đáp trả của tên lửa đạn đạo chống tàu sân bay của Trung Quốc, tàu sân bay quân Mỹ triển khai ở Tây Thái Bình Dương sẽ gặp phải mối đe dọa.

Tàu sân bay Carl Vinson CVN-70 Hải quân Mỹ

Cơ quan nghiên cứu Mỹ cho rằng, tên lửa đạn đạo chống tàu sân bay triển khai trên đất liền của Trung Quốc có thể bắn trúng tàu sân bay di động trên biển.

Điều này làm cho tàu sân bay quân Mỹ hoạt động ở vùng biển Đông Á đối mặt với mối đe dọa. Bài báo cho rằng, loại "sát thủ tàu sân bay" này còn có thể thay đổi hướng bay, vì vậy càng khó đánh chặn.

Ngoài ra, Quân đội Trung Quốc còn có thể sử dụng tàu ngầm, tàu chiến mặt nước và máy bay chiến đấu trang bị tên lửa hành trình chống hạm, phối hợp với tên lửa đạn đạo chống tàu sân bay để tác chiến, tàu sân bay quân Mỹ sẽ rơi vào tình trạng rất bị động.

Quân Mỹ có 1 "bí mật công khai"

Trên thực tế, Mỹ thổi phồng uy lực của "sát thủ tàu sân bay" Trung Quốc để mượn cớ tiếp tục mở rộng sức mạnh trên biển tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Tạp chí "Chính sách ngoại giao" Mỹ cho rằng, để ứng phó với mối đe dọa tên lửa đạn đạo chống tàu sân bay Trung Quốc, Lầu Năm Góc có kế hoạch tăng cường chế tạo tàu sân bay cỡ vừa và nhẹ, phát triển máy bay chiến đấu tầm xa mới.

Ngoài ra, để bảo đảm an toàn cho 3 hạm đội tàu sân bay triển khai ở các vùng biển Đông Á, quân Mỹ muốn triển khai nhiều tàu chiến Aegis hơn ở vùng biển này, đồng thời tiếp tục xây dựng mạng lưới phòng thủ tên lửa ở khu vực Đông Á.

Tàu sân bay USS Nimitz CVN-68 huấn luyện trên biển Đông

Tạp chí "Kính tiềm vọng-2" Nga chỉ ra, quân Mỹ có một "bí mật công khai": Tất cả các hạm đội tàu sân bay quân Mỹ có thể đều mang theo vũ khí hạt nhân chiến thuật, từ đó trở thành công cụ trên biển có sức răn đe hạt nhân.

Lầu Năm Góc nhấn mạnh mối đe dọa tên lửa đạn đạo chống tàu sân bay Trung Quốc là có ý đồ chứng minh quân Mỹ không thể dễ dàng từ bỏ vũ khí hạt nhân trang bị cho tàu chiến. Nếu Quân đội Trung Quốc sử dụng vũ khí dẫn đường chính xác đe dọa biên đội tàu sân bay Mỹ, quân Mỹ có thể sử dụng vũ khí hạt nhân trên tàu chiến tiến hành đáp trả.

"Cuộc chiến truy đuổi" 14 phút

Tờ "Kính tiềm vọng-2" cho rằng, quân Mỹ giả định mỗi quả tên lửa chống tàu sân bay Trung Quốc đều có thể bay đến tàu sân bay một cách chính xác, nhưng hiện còn chưa thể thực hiện.

Bài báo chỉ ra, hiện nay trên thế giới không có một loại radar có thể "khóa" chính xác tàu sân bay xa ngoài 1.500-2.000 km (bởi vì tàu sân bay không ngừng di chuyển), càng không thể tiến hành bám theo tàu sân bay bởi đội hình tàu hộ tống cực mạnh đi kèm.

Quân đội Trung Quốc có muốn như vậy cũng phải đồng thời sử dụng nhiều loại trang bị như máy bay do thám, tàu ngầm và vệ tinh mới có thể phối hợp radar tiến hành định vị tàu sân bay ở ngoài 1.000-2.000 km.

Sau khi định vị thành công, tên lửa Đông Phong-21D có thể bay tới mục tiêu với tốc độ bình quân khoảng 2,38 km/giây. Nếu tàu sân bay cách căn cứ phóng 2.000 km, quá trình bay của tên lửa cần 840 giây. Tốc độ của tàu sân bay Mỹ khoảng 32 hải lý/giờ, trong vòng 14 phút, nó hoàn toàn có thể chạy khỏi khu vực mục tiêu.

Tên lửa đạn đạo tầm trung dòng DF-21 Trung Quốc

Theo bài báo, điều này hoàn toàn không phải là nói tên lửa đạn đạo chống hạm Trung Quốc không đe dọa được tàu sân bay. Nếu lắp đầu đạn hạt nhân cho tên lửa, bom bi và đạn xung điện từ có tính sát thương diện tích lớn, thì mối đe dọa của nó sẽ tăng mạnh.

Theo suy đoán, tên lửa đạn đạo DF-21D có khả năng mang theo 900 kg, có thể lắp rất nhiều đạn, bán kính sát thương của nó có thể đạt 300-500 m. Các trang bị như radar tàu chiến và một bộ phận máy bay hải quân của tàu sân bay Mỹ trong phạm vi này có thể bị bắn trúng, nhưng tàu sân bay có thể sẽ không bị tiêu diệt.

Đông Bình /GDVN

Mổ xẻ “sát thủ săn ngầm” Petya Việt Nam trên Biển Đông

Kienthuc.net.vn) - Mặc dù đã cũ kỹ sau nửa thế kỷ phục vụ, tàu săn ngầm Petya của Việt Nam vẫn đóng vai trò quan trọng trong tác chiến của hải quân trên Biển Đông.
Những năm 1980, Việt Nam đã nhận viện trợ một số tàu chiến của Liên Xô. Trong số đó có lượng giãn nước lớn hơn cả là 5 tàu hộ vệ săn ngầm Project 159 (tên định danh NATO là Petya), trên 1.000 tấn. 

Trong 5 tàu này có 3 chiếc mang số hiệu SKR-141, SKR-130, SKR-135 (được Việt Nam gọi lại là HQ-13, HQ-15 và HQ-17) thuộc biến thể Project 159A (Petya-II). Và 2 chiếc còn lại mang số hiệu SKR-82, SKR-96 (Việt Nam gọi lại là HQ-9 và HQ-11) thuộc Project 159AE (Petya-III). 
Hai trong số 5 tàu Petya của Hải quân Nhân dân Việt Nam.
Tàu hộ vệ săn ngầm Petya được bố trí cơ cấu ba trục chân vịt gồm: một trục dùng động cơ diesel để tiết kiệm nhiên liệu khi tuần tra trên biển và 2 trục sử dụng động cơ turbine khí. Nó cho phép tàu đạt tốc độ tối đa 32 hải lí/giờ, hoạt động liên tục trên biển trong 10 ngày. 

Về vũ khí mặt nước, tàu có hai ụ pháo AK-726 2 nòng 76,2mm ở mũi tàu và đuôi tàu cùng hệ thống điều khiển hỏa lực Fut-B đạt tốc độ bắn 45 phát/phút, tầm bắn xa nhất 18,3km. Pháo cũng có khả năng tiêu diệt mục tiêu đường không ở độ cao từ 500-6.000m với tốc độ 350-650m/s. 

Trong tác chiến chống tàu ngầm, Petya được trang bị giàn thả bom chìm BB-1 ở đuôi tàu, các giàn phóng rocket chống ngầm RBU-2500 (sử dụng bom chìm RGB-25) và RBU-6000 (sử dụng bom chìm RGB-60) với hệ thống điều khiển Burya. 

Về ngư lôi, trong khi tàu Petya-II được trang bị 2 giàn phóng PTA-40-159 (mỗi giàn 5 ống phóng dùng ngư lôi SET-40UE 400mm), thì tàu Petya-III lại có 1 giàn phóng TTA-53-57 bis với 3 ống phóng ngư lôi SET-53M. 
Giàn phóng rocket săn ngầm RBU trên tàu Petya.
Theo đánh giá chung, những tàu săn ngầm Petya đã rất cũ kĩ, với khả năng chống ngầm hạn chế ở mức trong tầm nhìn. Không những thế, trước khi viện trợ cho Việt Nam, các tàu Petya đã có thời gian dài phục vụ trong Hải quân Liên Xô. 

Trong quá trình hoạt động ở Liên Xô, 2 chiếc SKR-96 (Việt Nam gọi là HQ-11) và SKR-130 (HQ-15) đã bị hư hỏng phần mũ chụp hệ thống định vị thủy âm nằm dưới thân tàu. Mất hệ thống tìm kiếm tàu ngầm, theo thông tin từ trang Russian-Ship, 2 con tàu phải gỡ bỏ vũ khí chống ngầm và thay bằng 2 ụ pháo 37mm 2 nòng V-11V ở sau đài chỉ huy và 2 ụ pháo 23mm 2 nòng ở phía trước. 

Các tàu còn lại cũng đã bị tổn thất nghiêm trọng về khả năng chống ngầm, do không có trang bị thay thế do các nhà máy Liên Xô đã dừng sản xuất phụ tùng cho loại tàu cũ kĩ này. 

Đến giai đoạn 1990-1995, các tàu hộ vệ Petya chỉ còn là một tàu pháo, mất khả năng săn ngầm chủ yếu của mình, nhiều tàu tiếp tục phải gỡ bỏ các giàn phóng bom chìm hay ngư lôi để lắp pháo. 

Trong những nỗ lực hiện đại hóa lực lượng hải quân Việt Nam, thì một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải phục hồi và tăng cường sức chiến đấu cho các tàu hộ vệ Petya. Được sự trợ giúp của các chuyên gia nước ngoài và nhất là Ấn Độ cung cấp 5.000 phụ tùng thiết yếu cho tàu, Việt Nam đã phục hồi được khoảng 80% năng lực chống ngầm của tàu Petya. 

Đồng thời, một số tính năng tác chiến đã được cập nhật, hiện đại hóa, như thiết bị thu sóng thủy âm, cải tiến radar cho phù hợp với khí hậu nhiệt đới … Đây là một bước tiến quan trọng, trong điều kiện vũ khí chống ngầm của ta còn rất yếu, và hải quân ta cũng rất thiếu những tàu lớn, trên 1.000 tấn.
Tàu hộ vệ săn ngầm Petya HQ-15 sửa chữa tại xưởng X51 (vùng 2 Hải quân). Nguồn: Tuổi Trẻ
Có những ý kiến cho rằng Việt Nam nên cải tiến theo hướng triển khai tên lửa chống tàu trên Petya. Tuy nhiên, đây là vấn đề khó có thể thành hiện thực, vì điều đó có nghĩa là phải triển khai toàn bộ các hệ thống điều khiển hỏa lực và các bệ phóng tên lửa. Điều này rất mất thời gian, tốn kém và có thể dẫn đến thay đổi cấu trúc con tàu. 

Việc thay thế pháo AK-726 bằng các hệ thống pháo AK-176 hay pháo phòng không cao tốc AK-630 là một biện pháp khả thi hơn, giúp tăng khả năng tự bảo vệ của tàu trước những tên lửa chống tàu của đối phương. Tuy nhiên phải xem xét hiệu quả kinh tế, vì các tàu Petya này đã xuất xưởng từ khá lâu. 

Theo đó, 3 tàu Petya-II đã gia nhập biên chế Hải quân Liên Xô trong giai đoạn 1970-1972. Còn 2 tàu Petya-III gia nhập biên chế năm 1977-1978. Trong bối cảnh hải quân ta đang rất thiếu vũ khí chống ngầm, thì việc phục hồi lại hoạt động cho các hệ thống chống ngầm của tàu hộ vệ Petya là phương án hợp lí, cả về biên chế chiến đấu và về mặt kinh tế.

Hiện tại, nhiệm vụ của các tàu Petya đó là tác chiến săn ngầm trong biên đội tàu. Cơ cấu biên đội tàu chiến đấu của Hải quân Nhân dân Việt Nam hiện tại có “hạt nhân” - 2 khinh hạm Gepard 3.9. Tùy theo nhiệm vụ mà cơ cấu biên đội tàu chiến sẽ có sự khác biệt nhất định. 

Khi tác chiến diệt hạm, đi cùng với Gepard sẽ là tàu tên lửa cao tốc Project 1241.8/1241RE, cùng một vài tàu pháo TT-400TP hoặc Project 10412 Svetlyak làm nhiệm vụ hỗ trợ phòng không, chi viện hỏa lực … 

Còn khi tác chiến chống ngầm, thì sát cánh bên Gepard 3.9 là các tàu hộ vệ Petya với hệ thống vũ khí săn ngầm mạnh mẽ (bom chìm chống ngầm, giàn phóng rocket). Ngư lôi SET-53M của Petya có khối lượng 1,5 tấn, có khả năng tấn công mục tiêu tàu ngầm ở độ sâu đến 200m, với tầm bắn lên đến 14km. Khinh hạm Gepard sẽ mang theo các trực thăng Ka-28, làm nhiệm vụ trinh sát, phát hiện tàu ngầm từ xa. 

Để bổ sung cho khả năng tấn công mục tiêu ngầm khá hạn chế của các giàn phóng bom chìm RBU-6000 trang bị trên Petya, trực thăng Ka-28 cũng có thể mang theo ngư lôi, hoặc bom chống tàu ngầm. 
Tàu Petya phóng rocket săn ngầm RBU trong diễn tập bắn đạn thật.
Đội hình tàu chiến đấu phối hợp với khinh hạm Gepard 3.9 làm hạt nhân, tàu tên lửa cao tốc 1241.8/1241RE làm nhiệm vụ diệt hạm, tàu pháo TT-400TP hỗ trợ phòng không toàn biên đội, yểm hộ hỏa lực, tàu hộ vệ Petya và trực thăng Ka-28 phối hợp với nhau để săn ngầm là một đội hình tương đối mạnh, đồng đều cả 3 mặt tác chiến đối hải – đối không – chống ngầm. 

Đội hình này lại hợp đồng tác chiến với tên lửa bờ biển (Bastion-PRedut), máy bay chiến đấu Su-22, Su-27 và Su-30MK2 của không quân trong nhiệm vụ phòng không và diệt hạm, máy bay M-28 trong nhiệm vụ chống ngầm nên sẽ rất mạnh mẽ, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng trời, vùng biển Việt Nam. 

Trong đội hình đó, tàu hộ vệ săn ngầm Petya giữ một vị trí quan trọng, là vũ khí chủ lực tác chiến chống ngầm cho biên đội tàu. Điều này càng khẳng định, việc không tiến hành lắp đặt tên lửa chống tàu lên tàu Petya là hợp lí. Việc có thêm một tàu săn ngầm được hoán cải thành tàu tên lửa không có nhiều ý nghĩa, vì xét cho cùng đấy chỉ là một biện pháp tình thế. 

Trong bối cảnh Hải quân Nhân dân Việt Nam đã có những tàu tên lửa tương đối mạnh thì việc hiện đại hóa tàu hộ vệ săn ngầm Petya, và đẩy mạnh hơn nữa việc bổ sung lực lượng chống ngầm (tàu săn ngầm, tàu ngầm Kilo) là hướng đi đứng đắn, giúp Hải quân Nhân dân Việt Nam làm tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.


“Tính kế” săn lùng “sát thủ dưới lòng đại dương” (1)

(Kienthuc.net.vn) - Tàu ngầm là một trong những vũ khí “đáng sợ”, trong nhiều năm các nền quân sự phát triển đã nỗ lực tìm ra “trăm phương ngàn kế” khắc chế tàu ngầm.
Từ khi ra đời, tàu ngầm đã chứng tỏ là một vũ khí tiến công rất hiệu quả, bí mật áp sát, diệt tàu mặt nước của đối phương. Đặc biệt nhất trong cuộc Chiến tranh thế giới lần 2, tàu ngầm phát xít Đức là “cơn ác mộng” khủng khiếp chưa từng thấy đối với quân đồng minh. 
Cho tới tận ngày nay, tàu ngầm vẫn được xem là một trong những vũ khí hải quân “đáng sợ” nhất. Nhưng, “vỏ quýt dày, có móng tay nhọn”, không loại vũ khí nào là không có phương án khắc chế. 

Tàu ngầm Hải quân phát xít Đức từng đánh chìm hàng trăm tàu hải quân đồng minh.

Cùng với sự phát triển liên tục của tàu ngầm, thì những loại vũ khí chống ngầm cũng được chú trọng nghiên cứu chế tạo, phát triển, cải tiến ngày càng mạnh mẽ hơn nhằm săn lùng “sát thủ dưới lòng đại dương”. 

Nhìn chung, thì tác chiến chống tàu ngầm chủ yếu nhằm bảo vệ các hạm tàu nổi của quân ta trước các đòn tấn công bất ngờ của tàu ngầm địch, và ngăn chặn tàu ngầm địch tiến công vào đất liền bằng các tên lửa đạn đạo, thậm chí có thể mang đầu đạn hạt nhân. Tác chiến chống ngầm được tiến hành bởi cả hạm tảu nổi, máy bay săn ngầm và tàu ngầm tiến công. 

Để đảm bảo tiêu diệt tàu ngầm địch, bảo vệ được cho hạm tàu và máy bay quân ta, tác chiến chống ngầm chia làm ba mặt: săn lùng, phát hiện tàu ngầm; tấn công tiêu diệt tàu ngầm và chống đòn phản công của tàu ngầm. 

Săn lùng tàu ngầm 
Môi trường nước hấp thụ rất mạnh ánh sáng, khiến cho việc khó phát hiện tàu ngầm bằng phương pháp quan sát bằng mắt thường hay các khí tài quang học. 

Nhưng ngược lại, môi trường nước lại truyền sóng âm rất mạnh (vận tốc âm thanh trong không khí là 340m/s, còn trong nước biển là 1.500m/s). Do đó, sự cơ động của tàu ngầm rất dễ bị phát hiện bằng phương pháp thu sóng thủy âm, hay đó là những hệ thống định vị thủy âm (sonar). Và đó cũng là vũ khí chính để phát hiện tàu ngầm, các hạm tàu khác của đối phương. 

Trực thăng Sea Hawk Hải quân Mỹ thả thiết bị định vị thủy âm.

Có hai loại định vị thủy âm gồm: định vị thủy âm chủ động là quân ta tự phát sóng siêu âm và sóng sẽ dội lại khi gặp tàu ngầm địch; định vị thủy âm thụ động là không phát sóng mà chỉ thu tín hiệu âm thanh từ động cơ, chân vị từ tàu ngầm địch.

Định vị thủy âm chủ động hoạt động cùng nguyên lí với các radar phòng không chủ động, dựa trên hiệu ứng Doppler, giúp xác định chính xác vị trí tàu ngầm địch, cả về phương vị và cự li. Tuy nhiên, định vị thủy âm chủ động cũng đồng thời làm lộ vị trí tàu ta, khiến cho tàu ngầm địch có thể kịp lẩn tránh, và thông báo cho hạm tàu nổi và máy bay chiến đấu phản kích đánh vào hạm tàu ta. Do đó, định vị thủy âm chủ động thường chỉ được sử dụng trên các phương tiện có độ ồn cao, như máy bay hay tàu chiến và thường được sử dụng trong thời gian rất ngắn, để tránh bị phát hiện. 

Định vị thủy âm chủ động cũng được sử dụng kết hợp với định vị thủy âm thụ động. Tuy không thể định vị chính xác như định vị thủy âm chủ động, không định vị chính xác được cự li, nhưng định vị thủy âm thụ động giúp tàu chiến ta không bị lộ vị trí. Nếu như trắc thủ định vị thủy âm có kinh nghiệm thì có thể phán đoán được sơ bộ kiểu loại tàu ngầm địch, và tốc độ di chuyển. Khi đó, định vị thủy âm chủ động sẽ được kích hoạt, định vị chính xác tàu ngầm địch để phát động tấn công. 

Ngoài định vị thủy âm, cũng có nhiều biện pháp khác để phát hiện tàu ngầm đang được nghiên cứu phát triển, hoặc dùng phối hợp với hệ thống định vị thủy âm để định vị chính xác mục tiêu. Định vị thủy âm không chỉ phát hiện được tàu ngầm, mà còn cả thủy lôi đối phương, tránh cho tàu ta đi vào khu vực nguy hiểm. 

Hiện nay, hệ thống định vị thủy âm được trang bị trên cả tàu chiến, tàu ngầm và máy bay để săn ngầm. Để dễ dàng định vị mục tiêu, các thiết bị thu tín hiệu thủy âm thường được thả sâu vào lòng biển. Ví dụ với trực thăng săn ngầm, thiết bị định vị thủy âm sẽ được thả thẳng đứng, vuông góc mặt biển khi máy bay đang bay treo. Còn với tàu chiến, những sợi cáp dò thủy âm sẽ được kéo rê phía sau tàu … 

Trực thăng săn ngầm Kamov Ka-28 của Hải quân Việt Nam.

Trong biên chế Hải quân Nhân dân Việt Nam hiện nay, có trang bị các hệ thống định vị thủy âm VGS trên trực thăng săn ngầm Ka-28, loại MGK-335EM-03 trên tàu hộ vệ tàng hình Gepard 3.9 và Titan trên tàu hộ vệ săn ngầm Petya… 

Trong đó, hệ thống định vị thủy âm MGK-335EM-03 trên tàu Gepard 3.9 rất hiện đại, có góc quét 260 độ, phát hiện được tàu ngầm ở bán kính từ 10-12km và thủy lôi ở cự ly 2km. 

Sắp tới, Hải quân Nhân dân Việt Nam còn nhận được các tàu ngầm Kilo Project 636, được trang bị hệ thống định vị thủy âm MGK-400EM Rubicon-M, có khả năng phát hiện tàu ngầm từ khoảng cách 16-20 km, hạm tàu nổi từ 60-80 km và định vị thủy âm quét mìn MG-519E "Harp-E" (phạm vi phát hiện ngắn nhất là 1,5km).

Do hạn chế của tầm phát hiện của hệ thống định vị thủy âm khá ngắn, thua kém rất nhiều so với tầm bắn của ngư lôi và tên lửa diệt hạm trên tàu ngầm, nên hạm tàu nổi có nguy cơ bị tàu ngầm đối phương công kích trước khi định vị thủy âm của ta phát hiện ra. Do đó, máy bay là phương tiện săn lùng tàu ngầm hiệu quả nhất, nhờ tầm bao quát rộng, tốc độ cơ động cao. Việc tàu ngầm nổi lên đánh trả máy bay săn ngầm bằng tên lửa phòng không là hành động liều lĩnh, có thể dẫn đến bị phản kích tiêu diệt.

Phòng thủ tránh “phản đòn” của tàu ngầm
Dù vũ khí săn lùng và phát hiện tàu ngầm đã có sự phát triển nhất định, nhưng như đã trình bày ở trên, tàu ngầm vẫn có khả năng bí mật tiếp cận, công kích hạm tàu nổi bằng tên lửa và ngư lôi, mà vẫn không bị định vị thủy âm tàu ta phát hiện ra. Với những vùng biển rộng lớn, mà không quân hải quân không đủ lực lượng bao quát hết, thì điều này là hoàn toàn có thể. 

Để chống lại ngư lôi, có thể sử dụng bom chìm để đánh chặn (như tàu Maddox đã sử dụng để đánh chặn các ngư lôi do tàu phóng lôi 123K của Hải quân Nhân dân Việt Nam phóng ra trong trận đánh ngày 2/8/1964). 

Hệ thống chống ngư lôi SLQ-25 trên tàu chiến Mỹ.

Tuy nhiên, khi mà ngư lôi ngày nay có tốc độ rất cao, đặc biệt là loại VA-111 Shkval (Nga) có tốc độ tối đa lên đến 360km/h, thì cần phải sử dụng những biện pháp kĩ thuật khác. Ví dụ như hệ thống phòng thủ chống ngư lôi SLQ-25 của Mĩ, được kéo phía sau tàu, tạo thành một mục tiêu giả để nhử các ngư lôi tự dẫn đánh vào. Tùy theo nguyên lí dẫn đường của ngư lôi, dẫn đường bằng radar, hay định vị thủy âm …, bám theo tín hiệu nào của hạm tàu ta, mà sẽ có nguyên tắc gây nhiễu, tạo mồi bẫy phù hợp.

Ngoài ngư lôi, các tàu ngầm hiện đại ngày nay còn có khả năng mang phóng tên lửa hành trình chống tàu (như UGM-84 Harpoon; SM-39 Exocet; Klub-S) để diệt hạm nổi. Những vũ khí này thậm chí còn nguy hiểm hơn ngư lôi khi chúng có tầm bắn vài chục tới hàng trăm km, độ chính xác cao và tốc độ cận âm thanh.

Nguyên lí phòng chống cũng giống như các tên lửa chống tàu phóng từ hạm tàu nổi hay máy bay chiến đấu. Đó là đánh chặn bằng các tên lửa phòng không tầm trung – xa, các hệ thống phòng không tầm ngắn và cực ngắn (CIWS), sử dụng mồi bẫy… 

Hiện nay, để đánh chặn các tên lửa diệt hạm, Hải quân Việt Nam chủ yếu sử dụng các hệ thống phòng không tầm ngắn Palma-SU, pháo phòng không cao tốc AK-630 và mồi bẫy PK-16. 

“Tính kế” săn lùng “sát thủ dưới lòng đại dương” (2)

Kienthuc.net.vn) - Bom chìm, súng cối là những vũ khí đầu tiên được dùng phổ biến trong hải quân nhiều nước đối phó với “sát thủ dưới lòng đại dương”.
Ngay từ khi tàu ngầm ra đời, đã có những biện pháp để tấn công tiêu diệt chúng. Cơ sở chung của các biện pháp này là, điểm hỏa những lượng nổ ở một độ sâu nhất định để phá tung vỏ và đánh chìm tàu ngầm. Hoặc chí ít cũng gây hư hại, ép tàu ngầm địch nổi lên để tiêu diệt. 

Bom chìm chống tàu ngầm
Dạng thô sơ nhất của biện pháp này là bom chìm chống ngầm. Nó đơn giản là một thùng thuốc nổ nặng hàng trăm kg, có một cơ cấu điểm hỏa cho phép phát nổ ở độ sâu xác định, tối đa lên đến 170m. Loại vũ khí chống ngầm này ra đời từ năm 1915 như một biện pháp khẩn cấp để Hải quân Anh - Mĩ chống lại tàu ngầm U-boat của Đức. 

Tuy nhiên trong quá trình sử dụng, bom chìm được đánh giá là không hiệu quả lắm. Tuy chúng sử dụng rất nhiều thuốc nổ, nhưng cách điểm hỏa “hú họa” khiến xác suất diệt mục tiêu rất thấp. Trong khi đó, tàu ngầm Đức có vỏ thép dày và vững chắc, nên dù bom chìm có phát nổ cách thân tàu ngầm 5m cũng chỉ như “muỗi đốt inox”. 

Bom chìm phát nổ phía sau chiếc tàu chiến của Hải quân Anh.

Chính vì vậy, trong suốt giai đoạn 1915-1917, bom chìm chỉ phá hủy được 9 tàu ngầm U-boat trong số hơn 300 tàu ngầm của Đức. Tuy nhiên, bom chìm lại phát huy tác dụng trong việc đánh chặn ngư lôi của tàu ngầm địch, vì vậy vẫn được duy trì trang bị cho tới tận ngày nay. 

Trên các tàu hộ vệ săn ngầm Petya đang có mặt trong biên chế Hải quân Nhân dân Việt Nam cũng có các máy rải bom chìm ở đuôi tàu, sử dụng bom chìm loại BB-1 với cơ số 256 quả. Dĩ nhiên, đây là bom chìm loại nhỏ, rải trên diện rộng để diệt tàu ngầm, không phải những loại bom chìm to nặng hàng trăm kg.

Vì bom chìm có hiệu quả rất thấp, nên đã xuất hiện nhiều ý tưởng, nhìn chung là rất viển vông để cải tiến sức mạnh cho loại vũ khí này. Ví dụ như tăng khối lượng lên đến hàng tấn thuốc nổ mạnh, hoặc sử dụng bom hạt nhân để tiêu diệt toàn bộ hạm đội tàu ngầm địch. Tuy nhiên, tất cả đi vào bế tắc và bom chìm “truyền thống” vẫn là vũ khí chống ngầm chủ lực cho đến năm 1942.

Súng cối diệt tàu ngầm
Cuối năm 1940, Charles Frederick Goodeve - nhà khoa học làm việc cho Bộ Hải quân Anh đã đề nghị phương án sử dụng súng cối bắn đạn chống ngầm. 

Hệ thống của ông mang tên Hedgehog, dịch ra có nghĩa là con nhím, ám chỉ hình dáng bề ngoài tua tủa những nòng súng của hệ thống (gồm 24 nòng súng cối, bắn đạn cỡ 183mm chứa 14kg thuốc nổ TNT). 

Hệ thống cối chống tàu ngầm Hedgehog.

So với bom chìm chống chầm, súng cối chống ngầm vượt trội toàn diện về mọi mặt:

- Thứ nhất, đạn súng cối phát hỏa theo cơ cấu chạm nổ, nên thủy thủ đoàn không còn phải tính toán độ sâu điểm hỏa như với bom chìm trước đây.

- Thứ hai, để xác định vị trí tàu ngầm, các hạm tàu của quân Đồng Minh phải sử dụng những sợi cáp thu tín hiệu thủy âm (gọi tắt là ASDIC). Nếu đánh tàu ngầm bằng bom chìm, thì dù tàu ngầm có bị diệt hay không, hệ thống ASDIC cũng bị sức công phá cực mạnh của bom chìm phá hủy. 

Việc triển khai lại hệ thống mất đến 15 phút, quá đủ thời gian cho tàu ngầm có thể lẩn trốn, hoặc thậm chí phản kích lại. Còn với đạn súng cối chống ngầm, cơ cấu chạm nổ khiến cho chúng chỉ phát nổ khi gặp tàu ngầm. Nếu đánh trượt, thủy thủ đoàn chỉ cần 3 phút để nạp lại đạn, đánh liên tiếp nhiều loạt liên tục.

- Thứ ba là uy lực sát thương khủng khiếp nhờ khả năng bao phủ diện rộng. Súng cối Hedgehog có tầm bắn từ 200-250m, 24 quả đạn rải đều trên một đường tròn đường kính 70m. Nếu sử dụng nhiều tàu, nhiều hệ thống súng cối bắn đồng loạt thì tàu ngầm địch sẽ rất khó thoát. Nhờ vậy, xác suất diệt mục tiêu của súng cối chống ngầm tăng lên 25%, so với 7% của loại bom chìm tốt nhất thời bấy giờ.

Sau sự xuất hiện rất thành công của Hedgehog, những biến thể tiếp theo của nó xuất hiện sử dụng đầu đạn nặng đến 90kg. Ví dụ như đạn MK.4 Squid đươc phát triển năm 1944 hay MK NC10 Limbo, có thể điều chỉnh tầm bắn từ 300-1.000m. 

Hải quân Liên Xô cũng cho ra đời những mẫu súng cối chống ngầm mới như MBU-200 (tầm bắn 200m) và MBU-600 (tầm bắn 600m). Ngoài ra, người Liên Xô còn sáng tạo ra một loại vũ khí săn ngầm còn hiệu quả hơn thế và vẫn sử dụng cho tới tận ngày nay.

“Pháo phản lực” săn ngầm
Sau sự ra đời của súng cối chống ngầm Hedgehog, gần như ngay lập tức xuất hiện các mẫu rocket chống ngầm. Trong khi trên bộ, các giàn pháo phản lực BM-13 Katyusha của Hồng quân Liên Xô đã “dập” cho quân phát xít “kinh hồn bạt vía”, thì ở dưới nước cũng vậy. Thay vì sử dụng súng cối, các hệ thống rocket chống ngầm sử dụng các đạn phản lực chống ngầm, nhờ đó có tầm bắn xa hơn, tốc độ bắn cao hơn và có thể bắn phủ trên diện rộng, với uy lực sát thương mạnh hơn hẳn.

Một trong hệ thống rocket săn ngầm đầu tiên là Mouse trap ra đời năm 1941 sử dụng loại đạn rocket nặng 29kg (lắp đầu đạn 15kg) và bắn xa đến 280m. 

Các biến thể  rocket chống ngầm sau Thế chiến thứ 2 được sử dụng rộng rãi trong Hải quân Mỹ và khối NATO có tên chung là ASROC (Anti Submarine ROCket). 

Hệ thống này được phát triển từ những năm 1960 gồm các ống phóng rocket cỡ 422 mm có thể bắn nhiều loại rocket chống ngầm khác nhau, kể cả việc lắp ngư lôi hoặc rocket mang đầu đạn hạt nhân 10 kiloton W-44 với tầm bắn 22 km. Trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, đây là vũ khí cơ bản để đối phó với lực lượng tầu ngầm chiến lược hùng hậu của Hải quân Liên Xô.

Giàn phóng rocket RBU-6000 trên tàu chiến Petya của Hải quân Nhân dân Việt Nam.

Để đối trọng với Mĩ và NATO, phía Liên Xô cũng cho ra đời liên tiếp các hệ thống rocket chống ngầm RBU-1000, RBU-2500, RBU-6000 và RBU-12000 với tầm bắn tương ứng là tăng từ 1.000 lên 12.000m. Loại vũ khí này được xem như là vũ khí tiêu chuẩn chống ngầm trên hầu hết các tàu chiến Liên Xô và nước Nga sau này.

Tàu hộ vệ săn ngầm Petya của Hải quân Nhân dân Việt Nam hiện nay cũng có trang bị các hệ thống rocket chống ngầm RBU-2500 (tầm bắn 2.500m với đạn RGB-25) và RBU-6000 (tầm bắn 5.800m với đạn RGB-60) có sức công phá rất mạnh. 

Bản thân Hải quân Nga hiện đại vẫn khá ưa dùng mẫu RBU-6000 và RBU-12000 trên chiến hạm mặt nước. Đặc biệt, biến thể nâng cấp của RBU-6000 là RPK-8 được trang bị các rocket 90R có đầu dò tự dẫn, bám đuổi và tấn công tàu ngầm ở độ sâu lên đến 1.000m, với xác suất đánh trúng lên đến 80%. Điều này cũng cho phép các hệ thống rocket chống ngầm có thể tấn công cả các người nhái, hay đánh chặn ngư lôi đối phương.

Tuy vậy, nhìn chung đây chỉ là những vũ khí chống ngầm trong tầm nhìn. Vì vậy nó chỉ là những vũ khí phòng vệ thụ động. 

Một tình huống điển hình là tàu ngầm địch phóng ngư lôi và tên lửa diệt hạm tấn công ở cự li gần, làm lộ vị trí. Nếu đánh chặn được những đòn tấn công của tàu ngầm địch, biên đội tàu ta xông lên truy kích, sử dụng ưu thế tốc độ để bắt kịp tàu ngầm địch và tấn công bằng rocket săn ngầm hay bom chìm. Như vậy, hạm tàu ta luôn ở thế bị động chống đỡ. Mà nguyên tắc chiến trường: Tiên hạ thủ vi cường! Người tấn công trước luôn chiếm ưu thế.


Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

Vì sao Trung Quốc sợ ‘hung thần’ Shkval VA-111 trên Kilo 636M của Việt Nam?


Shkval VA-111 (tiếng Nga: шквал – nghĩa là cơn lốc) là một loại ngư lôi cực kì nguy hiểm và đặc biệt của Hải quân Liên bang Nga. Sắp tới, Hải quân Nhân dân Việt Nam sẽ có thể được biên chế biến thể xuất khẩu Shkval 2E.
Shkval VA-111 là một trong những loại ngư lôi-tên lửa ứng dụng công nghệ siêu khoang và động cơ phản lực để đạt được tốc độ “kinh hoàng” là 200 hải lý, tương đương với 370km/h. Cho đến nay, Shkval vẫn chưa có đối thủ nhờ công nghệ siêu khoang rất đặc biệt là nhiên liệu cháy sử dụng trong môi trường nước.

Hiện nay, so với loại ngư lôi nhanh nhất của Hoa Kỳ là Mark 48 đạt vận tốc tối đa 81 knot, thì phiên bản mới nhất của dòng ngư lôi siêu khoang này là Shkval 2 có vận tốc lên đến 300 knot, vượt trội hoàn toàn so với Mark 48 và gấp 3.7 so với Mark.
Lịch sử phát triển
Đầu thập niên 60, phía Hoa Kỳ ứng dụng các công nghệ của Đức và tuyên bố rằng họ đã chế tạo ra được 1 loại ngư lôi-tên lửa (Torpedo-Missile – TMI) đạt được vận tốc 190 knot. Phía Mỹ tuyên bố rằng loại ngư lôi này sẽ được sử dụng cho các tàu ngầm hạt nhân tấn công chiến lược của họ. Lo sợ rằng người Mỹ sẽ hơn mình, các quan chức quốc phòng của Liên bang Xô Viết đã kiến nghị vấn đề này trong các cuộc họp với Nikita Sergeyevich Khrushchev, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (thủ tướng) của Xô Viết. Ông Khrushchev đã đồng ý và chi ngân sách thêm cho dự án phát triển loại ngư lôi siêu tốc mới.

Shkval E có thể giúp Việt Nam thay đổi cục diện ở biển Đông.
Năm 1959, dự án Shkval bắt đầu được Bộ quốc phòng đứng đầu và chọn Cục thiết kế hải quân NII-24 nghiên cứu và phát triển nhằm cho ra đời một loại ngư lôi siêu tốc mới để biên chế cho các tàu ngầm hạt nhân tấn công của mình. Cuối năm 1969, khi phía Hoa Kỳ liên tục thử nghiệm thành công các loại ngư lôi mới và đạt được những kết quả khá thành công thì phòng thiết kế GSKB-47 cũng nghiên cứu và ứng dụng công nghệ siêu khoang thành công.
Công nghệ siêu khoang là công nghệ mới, ứng dụng máy tạo bọt siêu khoang, bao phủ vật chất để làm giảm tối đa sức cản của nước, có thể di chuyển nhanh hơn bình thường trong môi trường nước biển. Tháng 12-1969, Phòng thiết kế GSKB-47 đã hợp nhất với Cục thiết kế hải quân NII-24 trở thành Viện nghiên cứu vũ khí và ứng dụng của hải quân Liên bang Xô Viết có trụ sở chính đặt tại thành phố Kiev, Ukraine.

Cấu tạo của một quả Shkval 1A.
Năm 1977, sau những thành công bước đầu thì Shkval VA-111 được sản xuất với 4 mẫu thử nghiệm. Cả 4 mẫu đều mang lại kết quả bước đầu đáng ngạc nhiên. Sau đó, năm 1978, Shval VA-111 (Shkval 1) được bắt đầu biên chế cho các tàu ngầm chiến lược trong Hạm đội Sao đỏ phương Bắc của Liên bang Xô Viết (nay là Hạm đội phương Bắc) nhằm đe dọa người hàng xóm là Phần Lan và Na Uy, bên cạnh đó là thị uy trước Hoa Kỳ. Tuy nhiên, phiên bản bản có một số hạn chế như:
- Không có đầu dẫn đường thông minh, chỉ có thể xác định mục tiêu thông qua thiết bị định vị thủy âm và sonar dưới mặt nước.
- Một vài mẫu không thể đạt được tốc độ tối đa do sự khác nhau giữa các vùng nước sâu và nông nên không thể hiện được sự mạnh mẽ và siêu tốc của nó.

Cấu tạo của một quả Shkval E sẽ được trang bị trên Kilo 636M (từ trên xuống): hệ thống định vị đường đi sonar, đầu tạo bọt khí siêu khoang, khoang cân bằng định hướng, bộ phận phun khí áp lực, đuôi định hướng động cơ đẩy.
10 năm, sau nhiều nâng cấp và cải tiến phiên bản Shval VA-111A (Shkval 1A) ra đời và được ứng dụng công nghệ dẫn đường siêu hiện đại. Qua đó, có những cải tiến đáng kể như:
- Ứng dụng công nghệ dẫn đường mới, Shkval 1A có thể xác định được đường đi của các ngư lôi phía địch bắn đi. Dựa vào đường đi này của ngư lôi đối phương, Shkval 1A có thể tấn công mục tiêu một cách chính xác.
- Nhiên liệu được cải tiến nhằm có thể đạt được hiệu suất tối đa là 97% nhằm giúp ngư lôi đạt được tốc độ cao nhất là 250 knot.
Hiện nay, chưa có bất kỳ loại ngư lôi nào vượt mặt được “hung thần” Shkval. Shkval đang tiếp tục được Liên bang Nga nghiên cứu và phát triển thêm. Sở dĩ Shkval đạt được tốc độ cao như vậy là nhờ ứng dụng công nghệ siêu khoang và hợp chất phản lực dưới nước.

Sơ đồ hợp đồng tác chiến giữ Kilo 636M và khu trục hạm.
Công nghệ siêu khoang thực chất là công nghệ tạo ra các bọt khí lớn nhằm bao bọc hoàn toàn quả ngư lôi nhờ đó giảm được tối đa sức cản của nước. Đầu của Shkval có một bộ phận tạo bọt khí nhằm tạo ra các lớp bọt khí chồng lên nhau bọc lấy thân của Shkval, do đó giảm đến mức gần như là giảm hoàn toàn lực cản của nước. Shkval VA-111 được phóng bằng các ống phóng cỡ 533mm của các loại tàu ngầm Nga. Khi được phóng đi và thoát ra bên ngoài, nó đạt được vận tốc ban đầu là 50 knot (khoảng 93km/h).
Nhưng chỉ 0.5s sau, tốc độ tăng vọt lên 200 knot (370km/h). Đây là sự kết hợp giữa nhiên liệu của Shkval và nước biển nhằm khởi động động cơ phản lực của nó để “bay” đi với lớp bọt biển bọc xung quanh. Hỗn hợp nhiên liệu của Shkval gồm 2 thành phần chính là Hydrongen Peroxide được nén dưới áp lực cao gọi là HTP và thành phần thứ 2 là hỗn hợp hydrocarbon. Tuy nhiên, thành phần thứ 2 mới là quan trọng, được coi như là thành phần xúc tác để khởi động động cơ phản lực giữa nước biển. Đây là một trong những công nghệ hiện đại và chỉ có Nga hiện nay đang sở hữu. Thành phần hydrocarbon được giữ kín và chưa hề có tiết lộ gì về loại nguyên liệu bí mật này.
Hiện nay, Shkval 1 và 1A đã được ngưng sử dụng và các hạm đội đã được trang bị loại ngư lôi mới là Shkval với khả năng “siêu tốc độ” đạt đến 300 knot (xấp xỉ 560km/h). Với vận tốc như vậy, khó có chiếc khu trục hạm cỡ lớn đến nhỏ và cả hàng không mẫu hạm cũng không thể thoát được cả nó.

Các ống phóng 533mm sử dụng để phóng Shkval 1A.
Hiện nay, sau khi chiếc Kilo 636M đầu tiên đã hoàn thành và sắp bàn giao cho Hải quân Nhân dân Việt Nam, Shkval phiên bản xuất khẩu Shkval E được cân nhắc trang bị cho lớp này của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Xác suất Shkval E được trang bị là rất cao khi hầu như tất cả các thiết bị trên Kilo 636M đều được trang bị hệ thống tác chiến mới cực kì hiện đại, cùng đó là những tính năng phù hợp và có thể phóng được Shkval. Hy vọng trong một ngày không xa, Shkval E sẽ được trang bị cho Kilo 636M và sẽ được trang bị trên chiếc tàu ngầm Kilo Hà Nội.
Với khả năng mang được đầu đạn nổ thông thường 210kg hoặc đầu đạn hạt nhân 150 kiloton, Shkval là một trong những “sát thủ” mà phía Hoa Kỳ cực kì lo ngại. Hoa Kỳ cũng rất muốn xem công nghệ này nhưng phía Nga liên tục giấu kín và có những biện pháp bảo vệ loại ngư lôi-tên lửa này. Năm 2000, một cựu nhân viên tình báo Hải quân Hoa Kỳ là Emond Pope, từng là Đại tá của Hạm đội 7 Hoa Kỳ đã lấy cắp bản thiết kế của Shkval 2. Emond đã bị kết án hoạt động tình báo tại Nga nhưng sau đó, Emond bị căn bệnh ung thư, nên đã được tổng thống đương nhiệm Nga là Vladimir Vladimirovich Putin ân xá và trục xuất ra khỏi Nga.
(VOR)