CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996               CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996                                  TIN TỔNGHỢP                     GIÃ SỬ                         QUÂNSỰ                    CHUYỆN LẠ              WEB                                    

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

Trung Quốc vẫn "cố tình nhập nhằng"

Trong khi Malaysia, Philippines, Việt Nam dường như đang tiến hành các bước đưa yêu sách phù hợp thì chính sách của Trung Quốc về các yêu sách trên̉ Biển Đông vẫn là "cố tình nhập nhằng". 
 >> Tranh chấp đang diễn tiến giữa Trung Quốc và các nước láng giềng

Lãnh thổ của một quốc gia bao gồm lãnh thổ đất liền cùng với các đảo thuộc chủ quyền. Nguyên tắc chung là tất cả các đảo được hưởng cùng các khu vực biển như lãnh thổ đất liền, có nghĩa là, một vùng lãnh hải, vùng EEZ và thềm lục địa. Các quy tắc về đường cơ sở áp dụng cho đất liền cũng dùng cho các đảo. Quy tắc thông thường là đường cơ sở là ngấn thủy triều thấp dọc theo bờ biển.
Tuy nhiên, có một ngoại lệ quan trọng đối với một số loại đảo. Điều 121 (3) của UNCLOS quy định rằng "đảo đá không duy trì được sự cư trú của con người hay đời sống kinh tế riêng thì sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. Nói cách khác, đảo đá chỉ được hưởng lãnh hải.
Mặt bằng triều thấp và các thể địa lý ngầm
Mặt bằng triều thấp là những vùng đất hình thành tự nhiên có nước bao quanh, nổi lên trên mặt nước khi thuỷ triều xuống nhưng nằm dưới mặt nước lúc thuỷ triều lên. Các vùng mặt bằng triều thấp không phải là đảo và không có lãnh hải riêng. Tuy nhiên, nếu nằm trong khoảng cách 12 hải lý của bất kỳ vùng lãnh thổ nào, kể cả các đảo, những vùng này có thể được dùng làm điểm đo đường cơ sở của vùng lãnh thổ đó [để tính bề rộng của lãnh hải].
Không quốc gia nào có quyền đòi chủ quyền trên một vùng mặt bằng triều thấp. Nếu một vùng mặt bằng triều thấp nằm trong lãnh hải của một quốc gia ven biển thì nó thuộc về chủ quyền của quốc gia đó, vì quốc gia ven biển đó có chủ quyền đối với đáy biển và tầng đất cái trong vùng lãnh hải của mình. Nếu vùng mặt bằng triều thấp nằm trong vùng đặc quyền kinh tế hoặc trên thềm lục địa thì nó không thuộc về chủ quyền của quốc gia nào. Tuy nhiên quốc gia sở hữu vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa mà có chứa vùng mặt bằng triều thấp thì sẽ có quyền tài phán trên vùng mặt bằng triều thấp này.
Các tàu tuần tra của cảnh sát biển Trung Quốc. Ảnh: Cqzg.
Các tàu tuần tra của cảnh sát biển Trung Quốc. Ảnh: Cqzg.
Yêu sách đối với vùng biển của các nước thành viên ASEAN
Tất cả các quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mà có yêu sách về biển đều mới chỉ đòi một vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đo từ đường cơ sở dọc theo bờ biển thuộc đất liền, hoặc từ đường cơ sở quần đảo trong trường hợp của Philippines. Malaysia và Việt Nam đã yêu sách một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ đường cơ sở bờ biển thuộc đất liền của mỗi nước.
Vào tháng 5/2009, Malaysia và Việt Nam cùng nhau đệ trình hồ sơ về thềm lục địa mở rộng ở phía nam Biển Đông lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa (CLCS) của Liên hiệp quốc. Việt Nam cũng nộp riêng một hồ sơ thềm lục địa mở rộng khác ở phía bắc Biển Đông cho CLCS. Trung Quốc và Philippines phản đối và yêu cầu CLCS không xem xét các hồ sơ này với lý do có tranh chấp ở các vùng biển này.
Vào năm 2009, Philippines cũng tiến hành các bước quan trọng trong việc làm rõ các yêu sách về biển của nước này bằng việc thông qua luật mới về đường cơ sở phù hợp với các điều khoản của UNCLOS về đường cơ sở quần đảo. Luật này gợi ý rằng Philippines muốn đòi một vùng đặc quyền kinh tế tính từ đường cơ sở quần đảo của mình. Trong luật này, các đảo ngoài khơi mà Philippines tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, bao gồm cả Bãi cạn Scarborough, đều sẽ được quản lý theo chế độ đảo trong Điều 121 của UNCLOS.
Những bước đi này của Malaysia, Philippines, và Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng trên ba khía cạnh. Một là, lần đầu tiên các bản đồ đính kèm trong hồ sơ đệ trình lên CLCS chỉ rõ giới hạn vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia và Việt Nam. Hai là, luật đường cơ sở mới của Philippines tạo điều kiện dễ dàng cho việc tính toán giới hạn vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của nước này. Ba là, cả ba nước này chỉ tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế tính từ đất liền của họ. Các nước này không tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế từ bất kỳ một đảo ngoài khơi nào mà họ có tuyên bố chủ quyền.
Điều này cho thấy rằng ba nước ASEAN này (và có thể cả Brunei) có thể đang chuyển hướng sang việc thống nhất quan điểm đối với các thể địa lý ngoài khơi ở quần đảo Trường Sa. Nếu đúng như vậy thì các nước này có thể sẽ đưa ra các lập trường như sau. Một là, họ chỉ tuyên bố chủ quyền đối với các thể địa lý thoả mãn định nghĩa về đảo theo UNCLOS (tức là chỉ có một phần ba trong tổng số các thể địa lý ở quần đảo Trường Sa).
Hai là, hầu hết các thể địa lý mà thỏa mãn định nghĩa về đảo thì lại là "những đảo đá không có khả năng duy trì việc định cư và hoạt động kinh tế của con người trên đó" và không được hưởng quy chế có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng.
Ba là, ngay cả đối với các đảo lớn có thể được hưởng quy chế có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng thì chúng cũng chỉ nên cho chúng hưởng lãnh hải 12 hải lý để không gây hiệu ứng thiếu cân xứng lên việc phân định biển. Hệ quả thực tế của lập trường chung này là hầu hết các tài nguyên ở Biển Đông sẽ nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển. Các vùng biển tranh chấp sẽ chỉ giới hạn trong vùng lãnh hải 12 hải lý xung quanh các đảo tranh chấp.
Yêu sách của Trung Quốc
Trong khi Malaysia, Philippines, và Việt Nam dường như đang tiến hành các bước đưa yêu sách của họ phù hợp với UNCLOS thì chính sách của Trung Quốc về các yêu sách trên̉ Biển Đông vẫn là "cố tình nhập nhằng". Trung Quốc vẫn không đáp lại việc các bên có liên quan liên tục yêu cầu nước này làm rõ các tuyên bố chủ quyền và và yêu sách biển.
Điều đáng lo ngại hơn là Trung Quốc dường như đang chuyển theo hướng khẳng định yêu sách biển không chỉ dựa trên UNCLOS mà còn dựa trên lịch sử. Điều này đặc biệt gây lo lắng cho các bên vì hầu hết các chuyên gia luật quốc tế đều đồng ý rằng không có cơ sở cho các yêu sách lịch sử như thế này trong UNCLOS và thông lệ quốc tế.
Một trong những vấn đề trong các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là không rõ nước này có tuyên bố chủ quyền trên các thể địa lý không thoả mãn định nghĩa về đảo của UNCLOS hay không. Ví dụ, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên Bãi Macclesfield mặc dù đây là bãi ngầm, nằm dưới mặt nước ngay cả lúc thuỷ triều xuống thấp. Theo luật quốc tế, các quốc gia chỉ có thể tuyên bố chủ quyền đối với các thể địa lý thoả mãn định nghĩa về đảo.
Trung Quốc có thể đưa các yêu sách biển của mình phù hợp với UNCLOS bằng cách chỉ tuyên bố chủ quyền đối với các thể địa lý thoả mãn định nghĩa về đảo và chỉ đòi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ các đảo lớn hơn. Trung Quốc có thể lập luận rằng các đảo phải được hưởng hiệu lực đảo đầy đủ, nhất là khi vùng đặc quyền kinh tế từ đảo nằm ở ngoài phạm vi vùng đặc quyền kinh tế đòi bởi các quốc gia ven biển tính từ đất liền của họ.
Điều gây tranh cãi chủ yếu trong yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông là phạm vi yêu sách không dựa trên các đảo đang tranh chấp mà dựa trên đường chín đoạn (hay đường chữ U) tai tiếng. Đường này được vẽ trong bản đồ ̉ kèm theo công hàm mà Trung Quốc gửi cho Tổng thư ký Liên hiệp quốc vào tháng 5/2009 để phản đối hồ sơ thềm lục địa mở rộng của Malaysia và Việt Nam.
Vấn đề gây quan ngại chủ yếu là hành động của Trung Quốc vào năm 2009 rõ ràng cho thấy nước này đang theo đuổi yêu sách ở Biển Đông theo ba mặt. Một là, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với các đảo và vùng nước lân cận, mà có thể được hiểu là lãnh hải. Hai là, Trung Quốc cho rằng các đảo này có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Ba là, Trung Quốc cũng đồng thời khẳng định các quyền, quyền tài phán và kiểm soát đối với các nguồn lợi dưới mặt nước và dưới đáy biển bên trong đường chín đoạn trên một dạng nào đó về các quyền lịch sử.
Tuân thủ luật hay xung đột
Các quốc gia khác cùng có yêu sách không thể chấp nhận lập trường của Trung Quốc rằng nước này có các quyền và quyền tài phán lịch sử đối với tài nguyên thiên nhiên dưới mặt nước và dưới đáy biển bên trong đường chín đoạn vì các yêu sách của Trung Quốc không hề có nền tảng dựa trên luật quốc tế. Do đó, nếu Trung Quốc vẫn không sẵn sàng làm cho các yêu sách về biển của họ phù hợp với UNCLOS, và giới hạn yêu sách của họ trong các vùng biển tính từ các đảo, thì nước này sẽ tiếp tục đi theo quỹ đạo pháp lý dẫn tới sự xung đột với các láng giềng ASEAN của họ.
Tác giả: GS Robert Beckman; Biên dịch: Nguyễn Trịnh Đôn - Phạm Văn Song. Hiệu đính: Phạm Thanh Vân - Dương Danh Huy. Nguồn: cil.nus.edu.sg
GS Robert Beckman là Giám đốc Trung tâm luật quốc tế, đồng thời là phó giáo sư Khoa luật, Đại học quốc gia Singapore.
Theo Tuanvietnam

Ấn Độ "Đông tiến" đấu Trung Quốc

Hôm nay 18/6, tờ Bình luận Trung Quốc (BLTQ) của Hồng Kông đã đăng tải bài viết với nội dung Ấn Độ tăng cường “Đông tiến” nhằm đối phó với Trung Quốc.

Chiến hạm hải quân Ấn Độ vừa ghé thăm Việt Nam.Chiến hạm hải quân Ấn Độ vừa ghé thăm Việt Nam.
Đông tiến nhằm phá "chuỗi ngọc trai"
Những chiến lược này của Ấn Độ chỉ vì một mục đích không bị đẩy ra rìa trước các lợi ích chung của khu vực và toàn cầu. BLTQ cho biết hạm đội tàu chiến phía Đông của hải quân Ấn Độ cử 4 tàu chiến chở theo 1.200 sĩ quan và lính thủy binh, phối hợp với hải quân Việt Nam tổ chức tập trận cứu nạn chung ở gần biển Đông.
Tờ báo này rêu rao rằng Ấn Độ và Việt Nam đã dùng cuộc tập trận chung này để “thăm dò phản ứng” Trung Quốc. Sau khi tập trận chung với hải quân Việt Nam, hải quân Ấn Độ còn sang thăm Philippines. Lần này 4 quốc gia mà hạm đội tàu chiến phía Đông của hải quân Ấn Độ sang thăm, có 3 nước đang xảy ra tranh chấp chủ quyền biển Đông với Trung Quốc, hành động này của hải quân Ấn Độ không những nhằm mục đích thể hiện sức mạnh quân sự với các nước Đông Nam Á, mà còn có dấu hiệu dính líu đến những tranh chấp ở biển Đông.

Hải quân Ấn Độ nhấn mạnh “tầm quan trọng của biển Đông đối với sự phát triển kinh tế, an ninh và hoạt động phòng nhự của các nước trong khu vực”. Hơn nữa, Ấn Độ đang phát triển hợp tác an ninh trên biển với các nước như Việt Nam, Nhật Bản... Ấn Độ còn chủ động tăng cường mối quan hệ quân sự song phương với các nước khác ở châu Á nhằm lấy đó để đối kháng với chiến lược “chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc trên Ấn Độ Dương.
Tuyến đường thương mại quan trọng như eo biển Malacca là mạch máu năng lượng nối liền với Ấn Độ Dương, 40% lượng hàng hóa thương mại của thế giới và hầu hết lượng dầu mỏ nhập khẩu vào Đông Á đều đi qua eo biển này. Nhu cầu lợi ích, tài nguyên và kỹ thuật ngày càng tăng của Ấn Độ có thể sẽ khiến quốc gia này gia tăng sức mạnh ở bờ Đông eo biển Malacca. Những nhân tố trên đã khiến Ấn Độ đang trở thành quốc gia có lợi ích liên quan đến an ninh và sự ổn định của khu vực này.
 Ấn Độ cảm thấy bị đe dọa nghiêm trọng bởi chiến lược 'chuỗi ngọc trai' của Trung Quốc bao vây.
Ấn Độ cảm thấy bị đe dọa nghiêm trọng bởi chiến lược 'chuỗi ngọc trai' của Trung Quốc bao vây.
Tờ BLTQ phân tích, ngay từ 20 năm về trước, Ấn Độ đã tích cực thực thi chiến lược “Đông tiến” để đối phó với sự phát triển của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương.
Sự phát triển ổn định của lực lượng hải quân Ấn Độ và các hoạt động hợp tác thương mại không ngừng được tăng cường của quốc gia này ở khu vực Thái Bình Dương cho thấy, hiện tại Ấn Độ có đủ khả năng để đảm bảo sự mở cửa và an ninh cho tuyến đường giao thông trên biển.
Bộ đôi tàu chiến INS SATPURA (F48) và INS RANVIJAY (D55) ở Đà Nẵng.
Bộ đôi tàu chiến INS SATPURA (F48) và INS RANVIJAY (D55) ở Đà Nẵng.
Bộ đôi tàu chiến INS SATPURA (F48) và INS RANVIJAY (D55) ở Đà Nẵng.
Tàu hộ tống INS Kirch (P62) do Thiếu tá Satish M Shenai làm thuyền trưởng trong chuyến thăm Việt Nam mới đây.
Tờ báo Hồng Kông này cho rằng, một trong những mục tiêu của hải quân Ấn Độ là bảo vệ an ninh của các tuyến đường vận chuyển tài nguyên năng lượng, Ấn Độ cần phát huy vai trò tích cực ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Với tư cách là một trong những nội dung của hoạt động tăng cường hợp tác quân sự với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Ấn Độ đang có kế hoạch cải thiện quan hệ với Australia và Thái Lan.
Mới đây, Bộ trưởng quốc phòng Ấn Độ lần đầu tiên sang thăm Australia. Bộ trưởng quốc phòng hai nước đã đồng thuận nhất trí tăng cường hợp tác quân sự giữa hai nước. Hai bên lên kế hoạch sẽ tổ chức tập trận chung vào năm 2015 nhằm thúc đẩy giao lưu quân sự giữa hai nước, từ đó nâng sự hợp tác phòng ngự giữa hai nước lên tầm cao “quan hệ đối tác chiến lược”. Tập trận chung là cơ hội để hải quân Ấn Độ thể hiện sức mạnh của mình.
Lập liên minh 'tứ hùng' để tránh bị ra rìa

TQBL khẳng định, Ấn Độ mong muốn thiết lập quan hệ chiến lược bốn bên với Australia, Nhật Bản và Mỹ để cùng nhau đối phó với sự ảnh hưởng ngày càng lớn ở khu vực Ấn Độ Dương, đồng thời , Ấn Độ cũng muốn bán vũ khí cho Thái Lan.
Mỹ đang điều chỉnh chiến lược toàn cầu và đặt trọng tâm ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chiến lược “tái cân bằng châu Á” của Mỹ nhằm thẳng vào quốc gia đang trỗi dậy là Trung Quốc. Nhật Bản với tư cách là một trong những đồng minh của Mỹ ở khu vực này, nội các của thủ tướng Shinzo Abe chủ động phối hợp với sự điều chỉnh chiến lược này của Mỹ, quốc gia này cũng đang tích cực điều chỉnh chiến lược của mình nhằm đột phá mục tiêu “hiến pháp hòa bình”.
Bộ đôi tàu chiến INS SATPURA (F48) và INS RANVIJAY (D55) ở Đà Nẵng.
Bộ đôi tàu chiến INS SATPURA (F48) và INS RANVIJAY (D55) ở Đà Nẵng.
Quân đội Ấn Độ gần đây thường xuyên tập trận với quân đội Mỹ nhằm đối phó với các thách thức chiến lược chung.
Ấn Độ cũng đang hưởng ứng chiến lược “tái cân bằng châu Á” của Mỹ, tăng cường thực thi chiến lược “Đông tiến”, quyết tâm phát huy sự ảnh hưởng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, không ngừng phát triển mối quan hệ với Mỹ, Nhật Bản và các nước Đông Nam Á để có thể giành được lợi ích lớn nhất khi Mỹ thực hiện chiến lược này, đồng thời thừa cơ để gia tăng độ ảnh hưởng về chính trị của Ấn Độ tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á.
Còn Nhật Bản tích cực phát triển mối quan hệ đối tác chiến lược với Ấn Độ, xét ở bề ngoài là có lợi cho Mỹ thúc đẩy chiến lược mới “tái cân bằng” châu Á, về thực chất là hai bên cùng muốn mở rộng độ ảnh hưởng của mình trong khu vực và trên trường quốc tế, mở rộng không gian chiến lược quốc tế, tranh thủ cơ hội để giành được lợi ích lớn nhất về chính trị và kinh tế.
Tờ BLTQ phân tích ý đồ chiến lược của quan hệ chiến lược mà Nhật Bản tăng cường với Ấn Độ là nhằm vào Trung Quốc, ý đồ chiến lược này rất phù hợp với nhu cầu chiến lược của Mỹ. Do đó, việc Nhật Bản không ngừng tăng cường mối quan hệ chiến lược với Ấn Độ cũng giành được sự ủng hộ của Mỹ, đồng thời cũng được phía Ấn Độ nhiệt tình phối hợp. Đây cũng là động lực khiến mối quan hệ Nhật - Ấn không ngừng được tăng cường như hiện nay.
Trong quá trình xây dựng mối quan hệ chiến lược với Nhật Bản và Mỹ, Ấn Độ vẫn coi quan hệ chiến lược với Mỹ là mối quan hệ song phương quan trọng nhất. Còn Nhật Bản khi xây dựng quan hệ chiến lược với Ấn Độ và Mỹ, cũng coi quan hệ chiến lược Nhật Mỹ là mối quan hệ song phương quan trọng nhất. Trong mối quan hệ ba bên Mỹ Nhật Ấn, quan hệ Nhật - Mỹ và Ấn – Mỹ ở vị trí chủ yếu, còn quan hệ Nhật - Ấn ở vị trí thứ yếu. Hơn nữa, hai bên Nhật Bản và Ấn Độ cũng đều coi mối quan hệ chiến lược của hai nước phục tùng và phục vụ cho mối quan hệ chiến lược với Mỹ.
Cuối tháng 5 vừa qua, thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh sang thăm Nhật Bản để tăng cường hợp tác anh ninh, quốc phòng với quốc gia này. Ấn Độ tích cực hưởng ứng ý tưởng “hợp lưu” Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương mà thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đưa ra, quốc gia này cũng đang tích cực chiển khai mối quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, tạo luồng sinh khí mới cho nền kinh tế Ấn Độ và tăng cường các cuộc đối thoại liên quan đến lợi ích chung trong khu vực và trên toàn cầu.
BLTQ phân tích, Ấn Độ đã đề ra kế hoạch “ba bước” trong hợp tác chiến lược với Nhật Bản: Thứ nhất, tăng cường cơ chế khu vực, tăng cường sự đồng thuận; Thứ hai, thúc đẩy nhất thể hóa kinh tế khu vực một cách sâu rộng; Thứ ba, tăng cường gắn kết khu vực, dựa trên nguyên tắc tự do hàng hải được luật pháp quốc tế bảo vệ, duy trì sự thông suốt cho các hoạt động thương mại hợp pháp, giải quyết một cách hòa bình các vấn đề trên biển.
Tờ BLTQ cho rằng, đối với Ấn Độ, mọi sự nỗ lực của hai nước Trung Quốc và Mỹ để ký kết được những hiệp định có tính “bài xích” Ấn Độ, quốc gia Nam Á này đều hết sức quan tâm. Ấn Độ không nên lệ thuộc quá mức vào sự tồn tại của Mỹ tại châu Á. Trong bối cảnh Trung Quốc đang trỗi dậy nhanh như hiện nay, Ấn Độ cần xây dựng mạng lưới quan hệ cân bằng đa phương cho riêng mình ở châu Á nhằm tránh rơi vào hoàn cảnh bị đẩy ra rìa trước các lợi ích chiến lược.
Những nỗ lực của Ấn Độ trong việc tăng cường mối liên hệ chiến lược với Nhật Bản gần đây cho thấy, với tư cách là sự phản ứng trước việc quân đội Trung Quốc tiến vào khu vực Aksai Chin và đối đầu với Ấn Độ hồi tháng 4 vừa qua, một phần mạng lưới quan hệ ngoại giao đang được xây dựng lại.
Trong quá trình phát triển hải quân, Ấn Độ vấp phải hai trở ngại lớn là vốn và kỹ thuật, trước tình hình này, việc Ấn Độ tích cực xây dựng mối quan hệ đối tác có thể là biện pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề vị thế chiến lược của quốc gia này đang bị đe dọa. Ấn Độ cần tích cực hơn để duy trì nhiều cuộc tiếp xúc đối tác chiến lược hơn, dự báo và xóa bỏ những rủi ro bị đẩy ra rìa chiến lược cho chính mình.
10 năm đầu của thế kỷ XXI, mong muốn được phát triển mối quan hệ mật thiết hơn với Mỹ, Nhật Bản, châu Âu và các nước láng giềng của Ấn Độ đã khiến quan hệ ngoại giao Ấn Độ có được sự cải thiện nhất định. Nhưng do tốc độ phát triển kinh tế của Ấn Độ bị chậm lại và thời gian vừa qua, quốc gia này đã phải đối mặt với hàng loạt vấn đề gây ảnh hưởng xấu trong nước (như liên tục xảy ra các vụ hiếp dâm, scandal của chính phủ...), hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế của Ấn Độ hiện đang bị xấu đi rõ rệt, chính sách ngoại giao tích cực tham gia sẽ trở thành nguồn động lực giúp Ấn Độ thoát khỏi vị thế quốc tế ngày càng nguy hiểm này.
 Bộ đôi tàu chiến INS SATPURA (F48) và INS RANVIJAY (D55) ở Đà Nẵng.
Ấn Độ đang nhanh chóng tăng cường sức mạnh nhằm giữ thế thượng phong trên sân nhà Ấn Độ Dương. Ảnh: Dàn chiến đấu cơ Harrier cất/hạ cánh thẳng đứng trên tàu sân bay của Ấn Độ.

Đồng thời, Ấn Độ luôn cảnh giác cao độ trước sự tiến quân vào Ấn Độ Dương của hải quân Trung Quốc. Cho dù là mở rộng hạm đội hải quân hay xây dựng căn cứ quân sự ở quần đảo phía Đông, cái cớ quan trọng nhất là “đề phòng hải quân Trung Quốc” nhằm củng cố vị thế chiến lược của quân độ Ấn Độ ở Ấn Độ Dương, lợi dụng sự phụ thuộc của Trung Quốc vào tuyến đường giao thông huyết mạch trên Ấn Độ Dương để chống lại sự tồn tại của quân độ Trung Quốc.
BLTQ kết luận sự hợp tác giữa hai nước Trung - Ấn trên Ấn Độ Dương nhiều hơn sự cạnh tranh. Sự trỗi dậy của Trung Quốc, Ấn Độ và độ hợp nhất của nền kinh tế thế giới ngày càng được mở rộng đã khiến cả hai nước ngày càng phụ thuộc vào biển. Hai nước cần tăng cường mối quan hệ đối tác chiến lược, mở rộng hợp tác thương mại, kiểm soát những tranh chấp về biên giới để mối quan hệ hai nước được phát triển theo hướng tích cực, bền vững.
Theo Huy Long
Tiền phong

“Lá chắn thép” nào trấn giữ Biển Đông?


Cụm chiến hạm phòng không cơ động sẽ làm thay đổi cán cân lực lượng tác chiến trên vùng nước biển Đông. Kẻ địch sẽ không dễ dàng sử dụng một đòn tấn công ồ ạt bằng tên lửa hành trình và máy bay chiến đấu.

Trong điều kiện tác chiến trên chiến trường biển Đông, với tư duy xây dựng hệ thống phòng không theo các thê đội đã nêu (tầm xa, tầm trung, tầm gần và cận gần), các chiến hạm không những cần có khả năng tác chiến trong đội hình của Cụm phòng không cơ động, mà còn phải có khả năng phòng thủ tên lửa độc lập và đột phá phản kích hạm đội đối phương với tốc độ cao. Đồng thời còn phải thực hiện nhiệm vụ phòng ngự bảo vệ hải đảo, quần đảo và ven biển.
Trên cơ sở các hạm tàu đã có trong biên chế, một trong những lựa chọn quan trọng của hệ thống phòng ngự biển khơi là nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của trang thiết bị, đồng thời vẫn giữ được những tính năng kỹ chiến thuật vốn có. Trong các giải pháp có thể lựa chọn, bao gồm đóng mới, nâng cấp động bộ trang thiết bị và module hóa vũ khí trang bị, giải pháp tối ưu nhất là lắp đặt các module vũ khí phòng không và nâng cấp hệ thống điều khiển hỏa lực phòng không, đồng bộ hóa với kỳ hạm, chiến hạm phòng không của Cụm chiến hạm phòng không cơ động.
Lực lượng phòng không ven biển và phòng không hải đảo trải qua nhiều năm xây dựng, với kinh nghiệm tác chiến đường không, được trang bị các hệ thống phòng không hiện đại và tương đối hiện đại ngày nay, hoàn toàn có thể đẩy lùi các đòn tập kích đường không bằng máy bay cường kích hoặc tiêm kích mang tên lửa, tuyến phòng ngự chống tên lửa hành trình, tên lửa chống tàu thuộc nhiệm vụ của các lớp tàu tầu biển, khinh hạm mang tên lửa và và các hộ tống hạm khác. Việc nâng cấp khả năng phòng không bằng các tổ hợp tên lửa – súng phòng không tự động tốc độ cao sẽ tăng cường năng lực tác chiến của các chiến hạm hạng nhẹ này.
Các tổ hợp tên lửa – súng tự động có thể được lắp đặt trên các chiến hạm cũ hơn, như chiến hạm chống ngầm lớp Petya II , pháo hạm Petya III, BPS-500, các lớp tàu Tarantul và xuồng phóng lôi, tàu pháo hạng nhẹ. Các tổ hợp này sẽ tăng cường khả năng phòng không chống tên lửa của các hạm tàu, đồng thời cũng tăng cường khả năng tác chiến chống hải tặc, cướp biển và lực lượng đổ bộ đường biển, đường không. Tính theo khả năng thực tế, các chiến hạm thế hệ trước có thể được lắp đặt dựa theo lượng giãn nước, thay thế các tổ hợp pháo phòng không 37 mm đã không phù hợp bằng các hệ thống "Pantsir-S1" và "Palma".
Tổ hợp tên lửa - pháo Pantsir-S1
Tổ hợp phòng không "Pantsir-S1" là tổ hợp vũ khí vũ khí phòng không tầm gần và tầm cận gần. Mục đích của tổ hợp là tuyến phòng không cuối cùng của hệ thống phòng không đa thê đội, được sử dụng để tiêu diệt các mục tiêu bay thấp, có diện tích phản xạ hiệu dụng nhỏ (tên lửa hành trình, máy bay không người lái….)."Pantsir-S1" có thể tác chiến trong điều kiện phức tạp về môi trường khí hậu và trong điều kiện nhiễu xạ nặng của chiến trường.
'Lá chắn thép nào trấn giữ Biển Đông?
Tổ hợp bao gồm có: 8 đến 12 ống phóng tên lửa phòng không 57E6-Е, có khả năng tiêu diệt các mục tiêu bay thấp ở độ cao từ 5 m đến 15000 m trên tầm xa từ 1,2 km đến 20 km, tốc độ của mục tiêu có thể đạt đến 1M. Súng phòng không tự động 2 nòng 2А38М cỡ nòng 30 cho tốc độ bắn đạt 5000 phát/ phút, tầm bắn từ 0.2 - 4 km, tầm cao mục tiêu từ 0 – 3000m. Hệ thống điều khiển hỏa lực hoàn toàn tự động, giảm thiểu đến mức tối đa thời gian trong gian đoạn phòng không ở tầm cận gần. Tổ hợp được trang bị radar mảng pha loại 1РС1-1Е, 1РС2 có tầm xa phát hiện mục tiêu có độ phản xạ hiệu dụng là 2m2 ở khoảng cách đến 36 km, theo dõi và bám mục tiêu ở khoảng cách 30m.
Ngoài ra tổ hợp còn có hệ thống trinh sát mục tiêu quang – điện tử có tầm quan sát đến 18km, có khả năng theo dõi, bám mục tiêu và điều khiển hỏa lực. Hệ thống điều khiển hỏa lực của "Pantsir-S1" có khả năng hoạt động trong hệ thống được đồng bộ hóa, trao đổi thông tin và chỉ thị mục tiêu. Tên lửa của tổ hợp có khả năng tiêu diệt được các mục tiêu như tên lửa hành trình Tomahawk, bom có điều khiển AGM-65 Maverick hoặc AGM-114 Hellfire), các loại bom có chỉ thị mục tiêu laser và tên lửa hành trình có tốc độ bay đến 1.000m/s, độ phản xạ hiệu dụng 0,1 – 0,2 m2 ở khoảng cách xa đến 18 km, xác suất tiêu diệt mục tiêu không thấp hơn 70%.
Tổ hợp phòng không tầm gần Palma
Đây là tổ hợp vũ khí phòng không tầm gần được lắp đặt trên các tàu hộ vệ tên lửa lớp Gepard 3.9. Một tổ hợp vũ khí phòng không năng động, có hiệu quả cao trong tác chiến phòng không tầm gần.
 'Lá chắn thép nào trấn giữ Biển Đông?
Tổ hợp phòng không module Palma là tổ hợp vũ khí tự động gồm có 2 súng tự động 30 mm АО-18КD (GS-6-30КD) với đường đạn căng và tốc độ bắn rất cao, 10.000 phát/ phút. Sơ tốc đầu đạn đạt 940 m/s đạn nổ thường và 1100 m/s đạn xuyên giáp lõi vonfram – niken- thép. Đồng thời có khả năng sử dụng đạn vạch đường. Súng có khả năng tiêu diệt mục tiêu trong khoảng cách từ 200 m đến 3.000 m. Cơ số đạn biên chế là 1.500 viên đạn, có đủ khả năng chống lại các đòn tấn côn của 4-6 tên lửa chống hạm với giãn cách 1 tên lửa là từ 3-4s, tên lửa đến cùng một hướng. Đây là thời gian mà tổ hợp súng phòng không chuyển hướng từ mục tiêu này sang mục tiêu khác.
Tổ hợp 3Р89 được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực vũ khí là thiết bị quang – điện tử đa kênh “ Sar”, chế độ hoạt động ngày đêm, có khả năng chống nhiếu cao. Thiết bị điều khiển hỏa lực có khả năng đồng bộ hóa và tiếp nhận thông tin từ các radar chỉ thị mục tiêu của chiến hạm. Sar bao gồm có :
- đài video – quang điện tử với tổ hợp sensor 752 х 582 cảm biến và các kênh quang ảnh nhiệt,
- Thiết bị đo xa laser.
- Các kênh laser dẫn tên lửa
Vũ khí phòng không tầm gần của Palma là các tên lửa phòng không "Sosna-R" bao gồm hai block với 8 tên lửa có đầu tự dẫn 9М337 (tín hiệu radar giai đoạn đầu và tự dẫn laser giai đoạn cuối). Tốc độ của tên lửa là 1.200 m/s, tốc độ mục tiêu tối đa là 700 m/s. Tầm xa hiệu quả của tên lửa là từ 1.300 m đến 10.000 m, tầm cao xạ kích từ 2m đến 5.000m. Hệ thống điều khiển tên lửa có thể tiếp nhận tín hiệu chỉ thị mục tiêu của radar chiến hạm và hệ thống radar trinh sát, cảnh báo sớm và chỉ thị mục tiêu của hải đoàn.
"'Lá chắn thép" cơ động trên biển
Căn cứ theo yêu cầu nhiệm vụ và tính năng kỹ chiến thuật, đồng thời căn cứ vào thiết kế thân tầu, các chiến hạm mang tên lửa chống tàu lớp Tarantul có thể được lắp đặt tăng cường hệ thống Palma, các chiến hạm lớp cũ hơn, có lượng giãn nước từ 500 tấn và được trang bị pháo phòng không 37 mm, có thể được thay thế bằng tổ hợp "Pantsir-S1". Với giải pháp thay thế module, các chiến hạm có thể thực hiện nhiệm vụ độc lập như chống ngầm, tuần biển, tổ chức các trận địa phòng ngự ở các khu vực có nhiều đảo nhỏ, hoặc được biên chế trong Cụm chiến hạm phòng không cơ động. Với nhiệm vụ thê đội phòng ngư tầm gần và cận gần.
  'Lá chắn thép nào trấn giữ Biển Đông?
Như vậy, theo phân tích đã nêu. Cụm chiến hạm phòng ngự cơ động sẽ bao gồm: 1 – 2 chiến hạm dự án 20380 mang hỗn hợp tên lửa tầm xa và tầm trung Redut, tổ hợp này sẽ tạo ra ô phòng ngự tầm xa có bán kính trinh sát lên đến 150 km, bán kính tấn công các mục tiêu trên không là 120 km, 50 km tầm trung. Hỏa lực phòng không tầm gần và cận gần (chống tên lửa hành trình và các phương tiện bay tầm thấp từ 5m so với mặt nước biển trở lên sẽ do các tổ hợp tên lửa súng phòng không "Pantsir-S1" và Palma, súng tự động AK 630 có trong biên chế đảm nhiệm.
Với tầm bắn của tên lửa tầm xa và tầm trung, các máy bay chiến đấu của đối phương sẽ rất khó bay vào vùng phóng tên lửa hiệu quả, đồng thời có khả năng tiêu diệt được những tên lửa diệt hạm lớn bay ở giai đoạn đầu tiên ở độ cao hơn 1 km với độ phản xạ hiệu dụng lớn hơn 2m2
Việc tăng cường các tổ hợp hỗn hợp tên lửa – súng tự động sẽ tạo một lưới lửa dày đặc bao gồm tên lửa và súng phòng không tự động, đảm bảo khả năng liên kết phối hợp tiêu diệt các tên lửa hành trình tầm thấp. Đây cũng là kinh nghiệm tác chiến Phòng không Việt Nam trong những năm chiến tranh, một nửa số máy bay bị bắn hạ trên bầu trời miền Bắc là do hệ thống pháo phòng không các cỡ nòng tiêu diệt do lưới lửa dày đặc tầm thấp.
Việc triển khai các tổ hợp module súng tên lửa tự động cũng tạo điều kiện tối ưu cho các phương tiện tác chiến như tàu phóng ngư lôi, khinh hạm tên lửa có điều kiện ngăn chặn đợt tập kích tên lửa của đối phương, đồng thời có thể nhanh chóng đột kích tốc độ cao vào đội hình chiến đấu của đối phương ở tầm phóng ngư lôi và tên lửa hiệu quả.
Hệ thống ô – lá chắn phòng không còn tạo lên một vùng chiến thuật an toàn cho hoạt động chiến đấu của các tàu ngầm diesel trong tình huống hiệp đồng chiến đấu binh chủng hợp thành. Kẻ thù nguy hiểm nhất của tàu ngầm là máy bay chống ngầm. Với hệ thống tên lửa tầm xa đến 120 km bán kính, các tàu ngầm disel có thể tổ chức một phòng tuyến chống ngầm hiệu quả bằng tàu ngầm, máy bay trực thăng chống ngầm và tàu chống ngầm trên khoảng cách 40 – 50 km so với đội hình phòng ngự, và từ khu vực cơ động an toàn này, có thể tấn công tiêu diệt địch bằng tên lửa Club–S diệt hạm.
Soái hạm cỡ 5.000 tấn, tại sao không?
Trên phân tích và đánh giá thực lực các lực lượng hải quân trên biển Đông, tổ chức Cụm chiến hạm phòng không cơ động sẽ làm thay đổi cán cân lực lượng tác chiến trên vùng nước Biển Đông trong điều kiện tác chiến bằng vũ khí thông thường. Các Cụm CVBG sẽ không dễ dàng sử dụng một đòn tấn công ồ ạt bằng tên lửa hành trình và máy bay chiến đấu để công kích các chiến hạm hạng nhẹ hoạt động ven bờ được. Đồng thời cụm chiến hạm phòng ngự cơ động sẽ là lá chắn vững chắc cho nhiệm vụ bảo vệ hải đảo, quần đảo trên hướng tấn công chính, cũng như sẵn sàng bảo vệ các khu vực ven bờ, những vùng có thể bị tập kích tầm xa bằng các loại tên lửa hành trình như Tomahawk.
Ngoài nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, Cụm chiến hạm phòng không cơ động với máy bay trực thăng trên boong tầu có thể tham gia chống cướp biển, bảo vệ các tuyến đường vận tải huyết mạch trên biển, bảo vệ các cơ sở kinh tế trên Biển Đông.
Thực tế nền công nghiệp quốc phòng đã có đủ khả năng đóng các chiến hạm có lượng giãn nước đến 5.000 tấn, sẽ không là vấn đề kỹ thuật nếu như chúng ta có các chiến hạm phòng không tên lửa lớp 20380 được trang bị tên lửa tầm xa và tầm trung. Chắc chắn trong tương lai gần, những cụm tàu hải quân hiện đại sẽ là bức thành đồng vững chắc trên biển đảo quê hương.
Theo Trịnh Thái Bằng
Tiền phong

"Bảo bối" nào gác trời Biển Đông?

Cụm chiến hạm phòng không là cụm hải quân phòng ngự cơ động có thể cơ động nhanh, hỏa lực phòng không mạnh và có khả năng phối hợp tác chiến tốt, tạo lá chắn dày đặc ngăn chặn tên lửa chống tàu.

Hầu như các chuyên gia quân sự đều thống nhất quan điểm rằng quốc gia nào khống chế được không phận Biển Đông cũng đồng nghĩa giành quyền kiểm soát vùng biển nhộn nhịp bậc nhất thế giới này. Việc có lực lượng không quân mạnh, đủ sức chiếm thế thượng phong trong các cuộc không chiến tiềm năng chỉ là một mặt của vấn đề. Cũng quan trọng không kém là khả năng phòng thủ, ngăn chặn các cuộc tấn công từ trên không của đối phương nhằm vào các hạm tàu.
Đặc điểm của các trận chiến đấu trên biển là không gian chiến trường rộng lớn. Các hoạt động tác chiến và điều hành tác chiến các lực lượng thuộc quyền diễn ra rất nhanh trong điều kiện các tình huống diễn biến phức tạp không thể dự đoán. Những tình huống khó khăn phức tạp đòi hỏi lực lượng hải quân phải được tổ chức liên kết phối hợp chặt chẽ, nắm chắc được tình hình địch, theo dõi và bám sát được các mục tiêu, đồng thời có phản ứng nhanh và chính xác trước các nguy cơ đe dọa từ mọi hướng.
Trong cụm chiến hạm phòng không cơ động, tính chất đặc thù của tổ chức biên chế lực lượng là có nhiều chủng loại phương tiện phòng không thuộc quyền (tên lửa các tầm bắn khác nhau, pháo hạm, súng phòng không tự động, máy bay trực thăng chiến đấu…), trong đó phải sẵn sàng phản kích đối phương cùng lúc bằng các phương tiện trong biên chế: ngư lôi, tên lửa chống tàu, pháo hạm. Ngoài ra, chỉ huy cụm chiến hạm phòng không cơ động cần hiệp đồng chặt chẽ trong một hệ thống điều hành tác chiến đồng bộ của sở chỉ huy cấp chiến lược – Bộ tham mưu quân chủng – với các lực lượng tác chiến khác như lực lượng phòng không tầm xa đất liền, lực lượng máy bay tiêm kích, lực lượng phòng không hải đảo. Đồng thời cần bảo vệ chắc chắn khu vực tiền duyên chống ngầm do tàu ngầm diesel – điện và chiến hạm chống ngầm, máy bay trực thăng đảm nhiệm.
Để đảm bảo cho không gian rộng lớn của chiến trường trên biển (đến 120 km bán kính tính từ tâm điểm – chiến hạm phòng không hoặc lớn hơn), điều kiện cần tối thiểu là mỗi cụm chiến hạm phòng không cơ động cần có từ 1 đến hai tàu hộ vệ phòng không tên lửa - lớp frigate phòng không.
Các cường quốc quân sự như Anh, Mỹ, Trung Quốc đã đầu tư xây dựng những khu trục hạm phòng không tiên tiến như Mỹ có tới 60 khu trục hạm phòng không tên lửa, đồng thời đang đầu tư 2,8 tỷ USD cho 2 chiến hạm phòng không tối tân nhất Zumwatl. Người Anh cũng đã đóng 6 khu trục hạm phòng không tên lửa Type 45 lớp Daring class. Trung quốc đã có 6 tàu khu trục phòng không lớp 052C lắp hệ thống tên lửa phòng không HHQ – 9 với 48 ống phóng tên lửa phòng không S – 300 PhM.
Hệ thống phòng tên lửa phòng không trên khu trục hạm 052C Trung Quốc.
Hệ thống phòng tên lửa phòng không trên khu trục hạm 052C Trung Quốc.
Trong chiến lược hải dương, các cường quốc nói trên đều là những cường quốc quân sự, vũ khí và phương tiện tác chiến hầu hết đều mang tính tiến công rất cao. Đồng thời các khu trục hạm này đều nằm trong các Cụm không quân hải quân công kích chủ lực CVBG đi cùng với các kỳ hạm là tàu sân bay hoặc tàu đổ bộ tải trọng lớn.
Hệ thống phòng tên lửa phòng không trên khu trục hạm 052C Trung Quốc.
Hệ thống kiểm soát, phòng không và phòng thủ tên lửa Aegis trên khu trục hạm USS John S. McCain (DDG-56) . 
Lực lượng cụm chiến hạm phòng không là cụm hải quân phòng ngự cơ động. Đặc trưng yêu cầu nhiệm vụ là khả năng cơ động nhanh, hỏa lực phòng không mạnh và có khả năng phối hợp tác chiến được với tàu hiện đại và các chiến hạm đã cũ có trong biên chế nhưng vẫn nằm trong đội hình lực lượng. Đồng thời có thể tạo được một lá chắn dày đặc ngăn chặn tên lửa chống tàu.
Trên thế giới đã có nhiều hệ thống phòng không hùng mạnh, điển hình như hệ thống phòng thủ tên lửa chiến hạm của Mỹ Aegis. Được coi là hệ thống tên lửa hiện đại nhất. Nhưng trong thực tế chiến đấu, tính từ thời điểm năm 1972 đến nay, thì các hệ thống tên lửa phòng không Nga vẫn có uy tín lớn về độ tin cậy trong tác chiến thực tế và có giá thành phải chăng, phù hợp với những quốc gia đang phát triển, không có nhiều kinh phí. Riêng hệ thống tên lửa S-300 đã được thử nghiệm thành công tại chiến trường Kosovo – Nam Tư (đã từng bắn hạ tên lửa Tomahawk và máy bay tàng hình F-117).
Một giải pháp – dự án thiết kế phù hợp cho hải quân là dự án thiết kế tàu hộ vệ tên lửa 20380- 20385, đã được đưa vào biên chế với 6 chiếc "Stereguschiy", "Soobrazitelnyy" ,"Boykiy", "Sovershennyy", "Stoykiy" và "Gromkiy" .Thiết kế công nghệ được hoàn thiện vào năm 2001.
Chiến hạm dự án 20380 trên biển. 
Chiến hạm dự án 20380 trên biển. 
Chiến hạm dự án 20380 không phải là khu trục tên lửa phòng không đa nhiệm. Dự án 20380 trên thực tế là tàu hộ vệ tên lửa phòng không ứng dụng công nghệ tàng hình stealth. Tàu có lượng giãn nước không lớn, tiêu chuẩn là 1.800 tấn (chế tạo là 2.000, 2.200, 2.220 tấn), dài 100m/116m (theo các nguồn tin khác nhau) chiều rộng là 13/14m cũng theo các nguồn khác nhau, độ cao tính từ mép nước là 11m, mực ngấn nước đầy tải là 7,8 m/7,95m ở độ cao nhất. Tàu có tốc độ max là 27 knots, tốc độ hải trình tiết kiệm là 14 knots, dự trữ hải trình 15 ngày. Thủy thủ đoàn 99 người bao gồm cả 14 sĩ quan điều khiển.
Phòng chỉ huy và điều hành tác chiến của tàu phòng không tên lửa 20380. 
Phòng chỉ huy và điều hành tác chiến của tàu phòng không tên lửa 20380. 
Điểm đặc biệt nhất của thiết kế dự án 20380 – 20385 là hệ thống vũ khí khí tài 3 trong 1. Tàu có thể hiệp đồng tác chiến rất hiệu quả với khinh hạm Molnya 1241.8 do cùng được trang bị hệ thống tên lửa chống tàu Kh-35 với hai bệ phóng 8 ống phóng tên lửa với tầm bắn 130 km (Việt Nam đã có trong trang bị loại tàu này và đang đóng thêm 6-10 chiếc khác theo giấy phép của Nga). Riêng dự án 20385 được trang bị hệ thống tên lửa chống tàu 2 x 4 ống phóng thẳng đứng UKSK (được sử dụng rộng rãi trên các chiến hạm hiện đại) "Caliber-NK" còn được gọi là Club – NK với các tên lửa chống tàu 3М-54E/3М-54E1, là những tên lửa được trang bị cho các tàu ngầm lớp Kilo 06361. Ngoài ra, tàu được trang bị 2 tổ hợp 4 ống phóng ngư lôi 330 mm loại ngư lôi "Paket-NK"
Đặc trưng của dự án 20380 – 20385 là hệ thống vũ khí phòng không, bao gồm cả vũ khí tầm xa - trung, tầm gần và cận gần. Tàu được lắp đặt hệ thống tên lửa phòng không Redut với 3x 4 bệ phóng thẳng đứng tên lửa 3K96 "Redut" – Phiên bản nâng cấp của S-300 PhM. ( cơ số đạn là 12 tên lửa tầm xa 9M96E2 hoặc 48 tên lửa phòng không tầm gần 9M100 hoặc biên chế hỗn hợp – tầm xa, tầm trung và tầm gần) với 32 tên lửa vác vai Igla. Dự án 20835 được trang bị đến 4 x 4 tổ hợp phóng tên lửa 3K96 “Redut” với số lượng tên lửa lên tới 16 tên lửa 9M96E2 hoặc 64 tên lửa 9M100.
Tên lửa 9M96E2 có tầm bắn lên đến 150 km, tên lửa 9M100 có tầm bắn 10 – 15 km. Ngoài ra, tàu còn được trang bị thêm 2 tổ hợp súng phòng không tự động AK 630M cỡ nòng 30 mm, cơ số 2 x 3000 viên đạn với hệ thống điều khiển bắn quang điện tử SP-521 'Rakurs". Một khả năng tăng cường hệ thống phòng không trong tác chiến độc lập là tàu được lắp hệ thống điều khiển hỏa lực MSA "Puma-02".
Chiến hạm đa nhiệm phòng không 20380.
Chiến hạm đa nhiệm phòng không 20380.
Khí tài trinh sát, điều khiển hỏa lực của 20380 – 20385 cũng rất hiện đại: Hệ thống điều hành tác chiến "Sigma-20380". Đài radar "Furke-E" tọa độ 3D dải tần E sử dụng để phát hiện, nhận dạng, theo dõi và chỉ thị mục tiêu (bao gồm các mục tiêu đường không và đường biển, mục tiêu có kích thước nhỏ và độ phản xạ hiệu dụng thấp), chỉ thị mục tiêu nguy hiểm cho hệ thống phòng không, tầm xa phát hiện mục tiêu có độ phản xạ hiệu dụng lớn hơn 1 m2 là 150 km, tầm xa phát hiện tên lửa bay trên mặt nước biển 5m, độ phản xạ hiệu dụng 0,02 m2 là 12 – 14 km. Radar chỉ thị mục tiêu và dẫn đường tên lửa chống tàu "Monument - A". Khí tài quang điện tử radar 5P-10 "Puma 02" chỉ thị mục tiêu pháo hạm. Trong đó, hệ thống điều hành tác chiến Sirma – 20380 và tổ hợp radar “Furke – E” đóng vai trò quyết định trong phòng không, phòng thủ tên lửa.
Là kỳ hạm trong cụm chiến hạm phòng không cơ động. Tàu có nhiệm vụ đồng bộ hóa lực lượng phòng không trong cụm, đảm bảo khả năng phòng thủ trước những đòn tấn công ồ ạt bằng tên lửa hành trình của đối phương. Để thực hiện được nhiệm vụ này, trên thực tế các chiến hạm có trong đội hình cần tăng cường năng lực phòng không bằng các tổ hợp vũ khí có khả năng tự động hóa trong phát hiện mục tiêu, chỉ thị mục tiêu và khai hỏa, kết hợp giữa tên lửa tầm gần và súng tự động tốc độ cao.
(còn nữa)

Theo Trịnh Thái Bằng
Tiền phong

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

Tướng Lê Mã Lương: Người Việt rất mạnh khi chiến đấu bảo vệ đất nước.




Lịch sử lá cờ Quyết chiến quyết thắng của QĐNDVN


Khi nói đến sức mạnh của người Việt, Thiếu tướng Lê Mã Lương – Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam cho rằng: Thời bình có thể người Việt sống thu mình, bằng lòng với những gì đang có nhưng khi bị dồn vào bước đường cùng, đặc biệt mối nguy từ ngoại xâm thì người Việt Nam có thể gác lại mọi hiềm khích trước đó để cùng nhau đoàn kết tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước. Điều này đã trở thành tính cách của người Việt, tồn tại hàng nghìn năm.

- Thưa Thiếu tướng, có một thực tế là bên cạnh tính cần cù, chịu khó, người nông dân Việt Nam nổi tiếng sáng tạo, từ những máy móc thiết bị tự chế phục vụ đắc lực cho việc nhà nông đến chế tạo được cả máy bay xuất khẩu sang Mỹ, Hàn Quốc… vậy tại sao nói đến người nông dân Việt, người ta hay liên tưởng đến cái nghèo?
Thiếu tướng Lê Mã Lương: Như chúng ta cũng biết, những sáng tạo mới đây trong nông nghiệp không phải từ các nhà khoa học mà từ những người nông dân những người gắn bó với việc ruộng vườn, họ hiểu công việc của mình hơn ai hết. Trong những triển lãm nông nghiệp.. chúng ta dễ thấy rất nhiều máy móc, thiết bị vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp được người nông dân cải biến phát huy nhiều tác dụng giảm bớt sức người.
Tuy nhiên người nông dân Việt Nam có sự thua thiệt là ít học, vì thế nên dù cần cù, thông minh nhưng nghèo khó luôn đi cùng người nông dân. Chính vì ít học, thiếu hiểu biết nên dù chế tạo được máy móc, nhiều sáng kiến trong nông nghiêp nhưng cuộc sống vẫn khó khăn. Thêm vào đó là chính sách hiện nay với nông nghiệp nông thôn còn ít.
Dù cho Nhà nước đang thực hiện xây dựng nông thôn mới nhưng với 19 tiêu chí đó cũng chưa đủ vực dậy khu vực nông thôn.
- Là người đã đi nhiều, đã trải qua những thời khắc hào hùng nhất trong cuộc kháng chiến bảo vệ đất nước, theo Thiếu tướng điều gì ở người Việt khiến các quốc gia lớn mạnh khác phải nể sợ?
Thiếu tướng Lê Mã Lương: Theo tôi có 2 yếu tố khiến thế giới nói chung và các quốc gia lớn mạnh phải nể sợ. Thứ nhất là người Việt Nam có ý chí chiến đầu giữ gìn bảo vệ độc lập tự do tổ quốc. Người Việt Nam luôn thể hiện tinh thần chiến đấu quật cường trong kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ dân tộc. Điều này được cả thế giới công nhận.

Tướng Lê Mã Lương: Người Việt rất mạnh khi bị dồn đến “chân tường”.
Thứ hai người Việt Nam rất thông minh, điều này thể hiện ở những cuộc thi Olympic tri thức như toán, lý, hóa… học sinh, sinh viên Việt Nam luôn đạt được thành tích rất cao.
Tuy nhiên tại sao ta có hội tụ cả hai yếu tố đó nhưng đất nước vẫn chưa có những bước phát triển đột phá, nổi bật? Vấn đề ở đây chính sách, tạo điều kiện cho người tài phát huy năng lực khả năng của mình, trách nhiệm đó thuộc về cơ quan quản lý.
- Có ý kiến cho rằng, trong thời chiến, chính sức mạnh đoàn kết đã giúp người Việt chiến thắng được mọi kẻ thù. Nhưng khi hòa bình, tinh thần ấy lại quá mờ nhạt, mỗi người đều chỉ biết vun vén cho lợi ích cá nhân. Thưa Thiếu tướng, phải chăng chỉ khi dồn đến “chân tường”, đến bước đường cùng, sức mạnh của người Việt mới bật lên được?
Thiếu tướng Lê Mã Lương: Điều này rất đúng và nó trở thành tính cách của người Việt tồn tại hàng nghìn năm. Ở thời bình, có thể người Việt sống thu mình, bằng lòng với những gì đang có nhưng khi bị dồn vào bước đường cùng, đặc biệt mối nguy từ ngoại xâm thì người Việt Nam có thể gác lại mọi hiềm khích trước đó để cùng nhau đoàn kết tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước.
Tôi cho rằng đây là một đức tính tốt của người Việt Nam, bởi ở hoàn cảnh khác nhau sẽ tạo ra những con người khác nhau. Nhưng tôi nghĩ hơn hết người Việt sống rất bao dung, có thể tha thứ cho nhau mọi lỗi lầm điều này minh chứng cho việc người Việt sống lụy tình, cái lý luôn có cái tình.
- Khi nói về người Việt, không ít nhà nghiên cứu, giáo sư, tiến sĩ cho rằng người Việt trẻ ngày nay không có khát vọng lớn, thậm chí một bộ phận lớn giới trẻ hèn nhát và vô cảm… Theo Thiếu tướng điều đó có đúng không? Thiếu tướng nói gì về những nhận xét trên?
Thiếu tướng Lê Mã Lương: Trước hết phải khẳng định những nhận xét đó chỉ đúng với một số ít người trẻ hiện nay và nó không đại diện cho cả thể hệ người Việt trẻ. Nhìn lại lịch sử chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ đất nước chúng ta đang đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới.
Có lẽ trên thế giới Việt Nam là đất nước duy nhất liên tục phải trải qua những cuộc chiến tranh lâu dài, gian khổ. Sự hy sinh cho đất nước cho dân tộc là cực lớn, chúng ta đã trải qua cuộc chiến tranh giải phóng 30 năm, suốt từ 1945 – 1975 rồi sau đó chúng ta lại tiếp tục bước vào cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc từ 1976 – 1988. Như vậy chúng ta có 42 năm liên tục trong cuộc kháng chiến và bảo vệ tổ quốc.
Chúng ta phải tập trung sức người, sức của cho các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc. Vì thế khi chiến tranh kết thúc chúng ta phải xây dựng lại hoàn toàn, sự tàn phá của chiến tranh hết sức ghê gớm. Khắc phục hậu quả của chiến tranh là rất lâu dài, để có được diện mạo đất nước như hôm nay, dù chưa có được những bước đột phá nhưng để Việt Nam có vị thế hôm nay là nhờ sự phấn đấu nỗ lực trong mấy chục năm vừa qua.
Có được những điều ấy rõ ràng là do thế hệ trẻ, những người sinh trước và sau năm 1975 đã có những đóng góp to lớn xây dựng lại đất nước. Điều đó nói lên rằng tuổi trẻ đã khẳng định được mình. Vì thế nếu ai nói người Việt trẻ hiện nay nhút nhát hơn,  tự ti hơn, thiếu dũng khí hơn… Tôi nghĩ là đánh giá đó không thỏa đáng không nhìn thấy những cống hiến của người Việt trẻ hiện nay.
Tương lai đất nước thuộc về người Việt trẻ, không ít người hiện đang giữ trọng trách quan trọng trong bộ máy lãnh đạo nhà nước ở Trung ương cũng như địa phương. Người Việt trẻ hiện nay chính là rường cột của đất nước. Vì vậy đánh giá phải nhìn một cách toàn cục.
- Vậy điều gì ở những bạn trẻ hiện nay khiến Thiếu tướng ấn tượng nhất? Giới trẻ ngày nay có điểm gì hơn và kém hơn so với giới trẻ thời của Thiếu tướng? Ông có niềm tin vào giới trẻ ngày nay không?
Thiếu tướng Lê Mã Lương: Nếu so sánh với thế hệ đi trước tức là thế hệ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước như chúng tôi, những người đã trên dưới 60 tuổi, một thế hệ mà theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, chúng tôi rất tự hào đã kế thừa xứng đáng thể hệ trưởng thành trong kháng chiến chống pháp và thế hệ chống Mỹ như chúng tôi đã để lại dấu ấn to lớn đó là chiến thắng đế quốc Mỹ giải phóng dân tộc thống nhất đất nước.
Chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không chỉ dựa vào ý chí và quyết tâm, dũng cảm mà dựa trên nền văn hóa dân tộc đã kết tính từ bao đời và được đẩy lên cao trào ở trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chúng ta thắng Mỹ là thắng bằng nền văn hóa lâu đời.
Nếu nói đến các thế hệ, tôi tạm cho rằng người Việt trẻ hiện nay thuộc thế hệ thứ 4. Thế hệ thứ nhất là những công thần mở đường cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc những năm 1930 thế kỷ trước, thế hệ thứ hai là những người trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, thể hệ thứ 3 là thế hệ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ.

Quân đội nhân dân Việt Nam
Với thế hệ thứ 4, những người Việt trẻ hiện nay tôi cho rằng họ đang kế thừa xứng đáng thế hệ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Ưu điểm hơn và vượt xa hơn thế hệ đi trước, người Việt trẻ hiện nay là đã tiếp thu được một lượng lớn tri thức dồi dào, to lớn của dân tộc và thế giới. Điều này những thế hệ đi trước như chúng tôi không có được. Do có thế mạnh như thế đã khẳng định mình trong nhiều mặt đóng góp rất nhiều cho đất nước phát triển đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế.
Vì vậy tôi hoàn toàn tin tưởng vào thế hệ trẻ hôm nay sẽ tiếp nối các thế hệ đi trước trong việc xây dựng đưa đất nước đi lên.
- Trong một cuộc phỏng vấn ở nước ngoài, nếu có ai hỏi Thiếu tướng người Việt mạnh hay yếu, ông có thể trả lời ngắn gọn thế nào?
Thiếu tướng Lê Mã Lương: Đất nước Việt Nam luôn hùng mạnh, người Việt Nam là một dân tộc có ý chí tinh thần quật cường trong kháng chiến bảo vệ tổ quốc và là một dân tộc thông minh.
-  Theo Thiếu tướng, người Việt trẻ hiện nay đang gặp thách thức gì khi “bước ra” thế giới?
Thiếu tướng Lê Mã Lương: Thách thức nhiều về bản thân các bạn trẻ hiện nay đang có rào cản thách thức chính họ chính là sự tự ti, không mạnh dạn trong cách nghĩ, cách làm. Còn thử thách bên ngoài chính là tri thức, luôn luôn phải bồi đắp tri thức, nâng cao trình độ của mình.
- Xin trân trọng cảm ơn Thiếu tướng!
(BGD)

BrahMos ‘không có đối thủ’ trong vòng 20 năm tới


BrahMos, tên lửa hành trình siêu âm duy nhất của thế giới và là biểu tượng của sức mạnh quân sự của Ấn Độ sẽ không thể bị đánh chặn trong 20 năm tới.
“Loại tên lửa tương đương với BrahMos vẫn chưa được phát triển. Trong vòng 20 năm tới, nó không thể bị đánh chặn bởi bất cứ một đối thủ nào”, Ông Sivathanu Pillai, Giám đốc liên doanh Nga – Ấn Brahmos Aerospace, chia sẻ về khả năng phát triển công nghệ tên lửa trong tương lai của Ấn Độ.

Pillai cũng đã đề cập đến “công nghệ tên lửa” như là 1 trong 10 chìa khóa để xây dựng tương lai vững chắc và lớn mạnh của Ấn Độ trong một cuốn sách mới mà ông là đồng tác giả với cựu Tổng thống APJ Kalam.

BrahMos trong một cuộc diễu binh Ấn Độ.
“Chúng tôi tự hào rằng BrahMos là tên lửa hành trình siêu âm duy nhất trên thế giới, một biểu tượng của sự hợp tác giữa Ấn Độ và Nga, trong đó Ấn Độ cung cấp hệ thống dẫn hướng, hệ thống điện tử, phần mềm…, đã được chuyển giao thành công cho cả Hải quân Ấn Độ và Lục quân Ấn Độ, còn các biến thể trên không cho Không quân Ấn Độ cũng sẽ sẵn sàng trong thời gian vài năm tới”, Pillai cho biết trong một cuộc phỏng vấn.
BrahMos là loại tên lửa hành trình siêu thanh ứng dụng công nghệ tàng hình có thể phóng từ tàu, tàu ngầm, máy bay hay các trạm phóng lưu động trên mặt đất. Tên lửa được phát triển dựa trên sự hợp tác nghiên cứu giữa công ty Mashinostroeyenia của Nga và tổ chức nghiên cứu & phát triển quốc phòng Ấn Độ với dự án BrahMos Aerospace.

BrahMos đã được biên chế vào hải quân Ấn Độ.
Tên BrahMos là tên viết tắt của hai con sông: Brahmaputra của Ấn Độ và Moskva của Nga. Loại tên lửa này có vận tốc 2,5 đến 2,8 Mach, nhanh hơn 3,5 lần so với tên lửa hành trình Harpoon của Hoa Kỳ vốn bay dưới tốc độ âm thanh.
Brahmos Aerospace đang phát triển 4 biến thể BrahMos để triển khai trên mặt đất, tàu nổi, máy bay và tàu ngầm. Loại tên lửa này đã được biên chế vào hải quân Ấn Độ và gắn trên các loại tàu như tuần dương hạm lớp Talwar và tuần dương hạm lớp Shivalik. Biến thể Brahmos phóng từ mặt đất trên các bệ phóng di động cũng đã được đưa vào hoạt động trong Lục quân Ấn Độ.

Biến thể BrahMos phóng từ mặt đất.
Trong tháng 3 năm nay, Ấn Độ đã thử nghiệm thành công phiên bản phóng từ tàu ngầm của tên lửa hành trình siêu thanh BrahMos, đưa Ấn Độ trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới có tên lửa siêu thanh phóng từ tàu ngầm.
Tên lửa được phóng từ một bệ ngầm dưới nước tại vịnh Bengal của Ấn Độ. Sau đó, tên lửa đã đạt tới tầm bắn 290 km.
Các cuộc thử nghiệm phiên bản phóng từ máy bay của tên lửa này đã hoàn thành vào cuối năm 2012. Không quân Ấn Độ dự định sẽ trang bị tên lửa BrahMos cho 40 máy chiến đấu Su-30MKI Flanker-H.

BrahMos trang bị cho tiêm kích Su-30MKI.
Mới đấy, hãng thông tấn Itar-Tass của Nga dẫn một nguồn tin thân cận từ Bộ quốc phòng Ấn Độ cho biết Công ty liên doanh Nga-Ấn Độ BrahMos Aerospace đã bắt đầu công việc thiết kế một biến thể nhỏ hơn của tên lửa siêu thanh BrahMos mang tên BrahMos-M.

“Tiểu BrahMos” sẽ có trọng lượng khoảng 1,5 tấn và dài gần 6m. Loại tên lửa này sẽ được trang bị các máy bay Su-30MKI và MiG-29, tuy nhiên, nó cũng thích hợp để trang bị cho các chiến đấu cơ khác hiện đang hoặc sẽ phục vụ trong lực lượng không quân của Ấn Độ như Mirage-2000, Rafale…
(BTT)

Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013

Trung Quốc tăng tầm DF-21D “chặn” Mỹ ở Biển Đông

(11:21 18/06/2013) Theo các chuyên gia Mỹ, Trung Quốc có thể tăng tầm bắn tên lửa chống tàu DF-21D đối phó Hải quân Mỹ ở Biển Đông.



Nhà phân tích quân sự Mỹ của tờ The Diplomat Harry Kazianis nhận định, Quân đội Trung Quốc sẽ sớm mở rộng tầm bắn của tên lửa đạn đạo chống tàu DF-21D của mình nhằm ngăn chặn Mỹ can thiệp hoạt động của hải quân nước này ở Biển Đông.

Trích dẫn báo cáo Bộ Quốc phòng Mỹ về sự phát triển quân sự Trung Quốc, ông Harry Kazianis cho biết, hệ thống vũ khí mới phát triển cho Hải quân Trung Quốc bao gồm: tên lửa hành trình chống tàu và đối đất; tàu ngầm hạt nhân; tàu chiến đấu mặt nước hiện đại và tàu sân bay, tất cả phải có đủ phạm vi bao quát khu vực Biển Đông, Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. 

Tên lửa đạn đạo chống tàu DF-21D thiết kế để đối phó nhóm tàu sân bay chiến đấu Hải quân Mỹ. Ảnh minh họa

Kazianis cho biết thêm, hiện tại có thể Bắc Kinh nỗ lực mở rộng tầm bắn tên lửa đạn đạo chống tàu DF-21D lên hơn 1.500km. 

Còn Giáo sư Học viện Chiến tranh Hải quân Andrew Erickson nhận định, biến thể tương lai của tên lửa đạn đạo chống tàu sẽ được nâng cao đáng kể sau khi Hải quân Trung Quốc xây dựng cơ sở hạ tầng trinh thám để hỗ trợ dẫn đường tên lửa hướng tới mục tiêu. 

“Hiện nay thách thức ban đầu của việc triển khai tên lửa đạn đạo chống tàu đưa vào hoạt động đã được khắc phục, Trung Quốc có quyền lựa chọn phát triển các biến thể khác nhau, có khả năng bổ sung điểm này, điểm kia”, ông Erickson nói. 

Bắc Kinh có thể lên kế hoạch ảnh hưởng mạnh hơn ngoài tầm Đài Loan với tên lửa đạn đạo chống tàu tiên tiến trong kho vũ khí. Tuy nhiên, lực lượng Hải quân Trung Quốc và lực lượng không quân vẫn không đủ mạnh để thách thức vị trí thống trị của Mỹ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. 

“Nếu Trung Quốc có thể cải tiến tên lửa đạn đạo chống tàu vươn tới hạm đội hải quân của Ấn Độ, Indonesia và thậm chí là Australia thì môi trường an ninh khu vực sẽ thay đổi đáng kể. Ngoài ra, nó cũng có thể gây nguy hiểm cho các cam kết an ninh giữa Washington và Đài Bắc”, ông Harry Kazianis nói.



Theo Kiến Thức